Acoustic Research – Mở đầu cho kỷ nguyên stereo (phần 5)

Thành công đến từ AR-2 và AR-3 đã giúp cho Acoustic Research ngày càng trưởng thành hơn. Trong những năm 60 và 70, như bao công ty khác, thương hiệu này tiếp tục mở rộng với một loạt sản phẩm mới.

AR-3 thường được đánh giá là một mẫu loa với chất lượng tham chiếu, đặc biệt là đối với những ai không hứng thú với việc đặt trong nhà những mẫu loa khổng lồ như Klipschorn, Altec Laguna, JBL Hartsfield hay Bozak Concert Grand. Mẫu loa AR-3 sở hữu một vài ưu điểm trội hơn so với những mẫu loa khổng lồ kể trên: Các dải trầm sâu rộng hơn và chắc chắn hơn, trong khi các dải cao từ tweeter vòm mềm không chỉ mượt hơn, mở rộng hơn so với driver nén hoặc tweeter màng nón. Nhược điểm của thiết kế hệ treo âm học là khi so với loa họng kèn hoặc loa có lỗ bass phản xạ, chúng cần một nguồn công suất khá lớn do độ nhạy thấp hơn khá nhiều. Trong khi những mẫu loa họng kèn có thể tạo ra âm lượng cao, lên đến hơn 90dB chỉ cần 1 watt điện, những loa dùng hệ treo âm học có khi cần tới 20 watt chỉ để tạo ra mức âm lượng tương tự.

May mắn thay, ampli có mức công suất cao hơn 10 watt bắt đầu xuất hiện cùng thời với các hệ thống loa thùng kín và ngày càng phổ biến hơn. Cho tới tận thập niên 80, vẫn còn rất nhiều người sử dụng loa AR-3a (một phiên bản cải tiến từ AR-3, chính thức ra mắt năm 1964) làm hệ thống tham chiếu vì chất âm bass sâu, rõ nét của nó. Và quan trọng hơn, chất âm đó đến từ một thùng loa có kích thước 31 x 31 x 62cm. Các mẫu loa AR-3 và AR-3a cho đến nay vẫn có giá trị sưu tầm rất cao và được nhiều người yêu thích, bất chấp việc chúng đã có mặt trên thị trường được hơn 60.

loa acoustic research ar3

Hình ở trên là hình ảnh của một chiếc loa AR-3a đời đầu, lúc này vẫn còn sử dụng driver woofer có nam châm Alnico.

Kết thúc thập niên 50 và bước sang thập niên 60, các mẫu loa của Acoustic Research có xu hướng thiên về sự tinh tế, tập trung vào khả năng sản xuất hàng loạt hơn là đem đến những đột phá về mặt công nghệ. AR-3 trở thành AR-3a, AR-2 biến thành AR-2a và theo sau đó là AR-2ax. Một phiên bản nhỏ hơn của AR-4 thậm chí còn được xuất hiện và chẳng mấy chốc, chúng ta lại có thêm những mẫu loa AR-4a và AR-4ax. Các mẫu loa Acoustic Research nhanh chóng trở thành tiêu chuẩn của cả ngành công nghiệp và của cả thế giời. Nhờ vào tài năng trong lĩnh vực công nghệ cũng như marketing của Villchur, đến giữa những năm 1960, cứ ba bộ loa được bán ra thì lại có một bộ là loa của Acoustic Research. Ngày nay, dưới sự cạnh tranh khốc liệt của hàng nghìn thương hiệu khác nhau, chúng ta chẳng bao giờ thấy được điều đó diễn ra thêm lần nào nữa, thậm chí để nó biến thành sự thực cũng là điều bất khả thi.

Khi Acoustic Research, từ một thương hiệu mới mở trở thành một công ty có uy tín, quá quen thuộc đối với nhiều người, những người đứng đầu công ty ngay lập tực nhận ra rằng cơ hội để phát triển những sản phẩm khác ngoài loa ra đã đến với họ. Villchur thiết kế một mâm đĩa than vô cùng đơn giản tên là AR-XA, với phần thân máy đặt trên hệ treo, truyền động bằng dây cu-roa. Đây là mâm đĩa than “xuất hiện sớm, dự báo trước cả thời đại của những mâm Thorens TD-125 và -160 cũng như Linn Sondek.”

loa acoustic research ar3 hay

Chính thức trình làng vào năm 1961 với mức giá 58 đô la, AR-XA vẫn được sản xuất cho đến thập niên 70 và không bao giờ vượt quá con số 90 đô la. Những biến thể của mâm đĩa than này vẫn còn được bán cho đến tận những năm 1990. Sau nhiều năm, có hơn 50 nghìn mâm đĩa than AR-XA đã bán ra thị trường. Thậm chí, một ngành công nghiệp xoay quanh các bộ thiết bị “độ” mâm đĩa than cũng như mâm đĩa than độ đã ra đời. Trong số này, nổi tiếng nhất vẫn là sản phẩm của George Merrill đến từ Merrill Audio.

Sang đến thập niên 70, ampli tích hợp và tuner do Acoustic Research sản xuất thường được tìm thấy trong những hệ thống đơn giản nhưng khả năng trình diễn lại ấn tượng. Một loạt mẫu loa mới cũng được ra mắt, từ những mẫu loa nhỏ như AR-7, AR-8 cho đến hàng cực hiếm như AR-LST (Laboratory Standard Transducer). LST là mẫu loa cỡ lớn, được thiết kế để treo ở những studio thu âm, với mục tiêu cải thiện khả năng tỏa âm của AR-3a cũng như khả năng chịu công suất lớn hơn bằng cách lắp thêm driver từ mẫu 3a. Mặc dù thu hút được sự chú ý của những người hâm mộ lâu năm, LST lại không để lại dấu ấn rõ rệt trong mảng âm tanh chuyên nghiệp.

Đến giữa thập niên 70, Acoustic Research đã trở thành một thương hiệu lớn, rất thành công, thậm chí còn bắt đầu trở thành lớp thương hiệu già. Đối với những người trẻ tuổi, thương hiệu này không phải là lựa chọn của họ. Mục tiêu mà họ hướng đến là những cặp loa có khả năng chơi nhạc rock với mức âm lượng rất lớn như Infinity, Cerwin-Vega hay Advent.

(Hết kỳ 5)

Bạn có thể xem thêm phần khác tại đây 

Acoustic Research – Mở đầu cho kỷ nguyên stereo (phần 1)

Acoustic Research – Mở đầu cho kỷ nguyên stereo (phần 2)

Acoustic Research – Mở đầu cho kỷ nguyên stereo (phần 3)

Acoustic Research – Mở đầu cho kỷ nguyên stereo (phần 4)

Acoustic Research – Mở đầu cho kỷ nguyên stereo (phần 6)

Acoustic Research – Mở đầu cho kỷ nguyên stereo (phần 7)
Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây

Những điều cần biết về loa subwoofer phần 1

Nguyễn Hào