Âm thanh lưu động – Khi âm nhạc không còn giới hạn ở sân khấu (phần 1)

Loạt bài viết này sẽ đưa người đọc tìm hiểu về một phần quan trọng của lịch sử âm thanh, từ đó hiểu được vì sao âm nhạc lại trở nên phổ biến như ngày nay, đến mức ở đâu cũng có thể tìm thấy âm nhạc.

Bằng cách tách riêng người biểu diễn, màn biểu diễn và nơi biểu diễn, đồng thời đi theo các hình mẫu công nghiệp hóa vốn có tính nhân rộng, các bản nhạc thu trên ống trụ và sau này là đĩa than đã giúp âm nhạc ngày càng phổ biến trong đời sống hàng ngày. Nếu như trước đây, công việc biểu diễn bị giới hạn về yếu tố địa lý hay đặc điểm xã hội thì giờ đây, bất cứ ai ở bất cứ nơi đâu cũng có thể nghe được những bản nhạc này, dù cho địa vị chính trị/xã hội của họ có như thế nào. Tuy nhiên, ngày trước ống trụ và đĩa nhạc rất to, cồng kềnh và dễ vỡ. Do không chịu được rung chấn tác động từ bên ngoài khi đang chơi, các thiết bị như phonograph hay gramophone thường là thiết bị cố định, không thể di chuyển mọi lúc mọi nơi được.

Bóng đèn điện tử chân không ra đời vào đầu thế kỷ 20 đã tạo nên một cuộc cách mạng về mặt công nghệ, cho phép lợi nhuận hóa ngành công nghiệp radio, thế nhưng vô tình làm giảm doanh thu của nhạc thu âm tới 90%. Tuy nhiên, công nghệ không hoàn toàn xóa bỏ đi ngành thu âm mà ngược lại, giúp nó tìm ra những con đường mới để có thể tiếp tục tồn tại bền vững. Bóng đèn chân không xuất hiện đã đem đến khả năng cải thiện chất lượng cho cả quá trình thu âm cũng như chơi nhạc, từ đó giúp ngành thu âm hồi sinh trở lại, đủ sức để cạnh tranh với đối thủ radio. Đây là một quá trình lâu dài, tốn kém nhưng có tính bền vững cao vì đến tận ngày nay, không ít studio thu âm vẫn sử dụng công nghệ bóng đèn. Sở dĩ đèn chân không vẫn được đánh giá cao vì sự đầy đặn, phong phú trong chất âm, phù hợp với những yêu cầu đặc biết. Thế nhưng, bóng đèn có kích thước lớn, chạy rất nóng, đắt đỏ và tiêu hao rất nhiều công suất. Hugo Gernsback từ năm 1919 đã tin rằng các giải pháp thay thế được cho đèn chân không chắc chắn sẽ là những phát minh có giá trị lớn.

O V Lossev

Từ năm 1906, tinh thể có tính dao động đã được sử dụng để làm chỉnh lưu cho các máy dò sóng đơn giản. Thế rồi, đầu tháng Chín năm 1924, Gernsback đã công bố một phát minh có liên quan đến lĩnh vực radio. Công trình nghiên cứu của nhà khoa học người Nga O. V. Lossev có ý nghĩa khá lớn vì giờ đây, tinh thể có thể sử dụng để thay thế cho bóng đèn chân không. Tuy nhiên, tuyên bố của Gernsback vẫn còn hơi quá sớm vì bóng đèn chân không vẫn tiếp tục được sử dụng rộng rãi hơn 25 năm tiếp theo trước khi nhường chỗ cho một thế lực khác. Người ta phải mất một thời gian nghiên cứu và tìm hiểu ngành vật lý chất rắn mới có thể tinh chỉnh được tinh thể có tính dao động thành một công cụ đáng tin cậy có thể thay thế cho bóng đèn. Trên thực tế, ngành khoa học này phức tạp đến mức vào năm 1956, William Shockley, John Bardeen, và Walter Brattain, các kỹ sư của Bell Labs đã giành được giải Nobel Vật Lý cho phát minh transistor từ trước đó hơn 10 năm.

Trong những ngày đầu, bộ thu tín hiệu của radio lớn đến mức người ta chế chúng thành đồ nội thất, to gần bằng một chiếc tủ cỡ nhỏ. Radio chỉ bắt đầu di động được William Powell Lear hỗ trợ công ty Galvin Manufacturing thiết kế nên chiếc radio cho xe hơi thương mại đầu tiên. Galvin giới thiệu sản phẩm vào năm 1930 với thương hiệu Motorola. Một năm sau, Lear cũng nhận được bằng sáng chế cho thiết kế này. Về sau, ông nhận được thêm 100 bằng sáng chế cho các thiết bị điện tử vượt trước thời đại và nổi tiếng với tư cách là nhà sáng lập kiêm kỹ sư thiết kế của hãng sản xuất máy bay Learjet. Chiếc radio Motorola đầu tiên mang số hiệu 5T71,6 có giá thành rất cao, gần bằng 1/4 giá của chiếc xe Ford Model A deluxe coupe. Radio, cũng giống như internet, không chỉ là một công cụ phổ biến đến người tiêu dùng mà còn là một thiết bị cung cấp tiềm năng khám phá đối với các nhà sản xuất âm nhạc.

radio Motorola 5t71

Nhạc sĩ người Anh Patrick “Spike” Hughes từng bị ấn tượng trước “chiếc radio Motorola 12 bóng đèn với một loa lớn, không giống bất cứ chiếc radio xe hơi nào vào thời đó” của nhà sản xuất John Hammond. Cỗ máy đồ sộ này bắt sóng từ các đài trên toàn nước Mỹ và Hammond dùng nó để “bám sát với nền âm nhạc của cả nước.” Trong một đêm tình cờ, khi quét sóng ngẫu nhiên ông đã phát hiện ra ban nhạc Count Basie, khi ấy đang biểu diễn tại Reno Club ở thành phố Kansas, cách vị trí của ông hơn 800km. Hơn 75 năm sau, nhà sản xuất Shawn Campbell cũng nhờ YouTube mà phát hiện ra Cody Simson, trong khi Scooter Braun tìm được Justin Bieber và PSY.

(Hết phần 1)

Bạn có thể xem thêm phần khác tại đây 

Âm thanh lưu động – Khi âm nhạc không còn giới hạn ở sân khấu (phần 2)

Âm thanh lưu động – Khi âm nhạc không còn giới hạn ở sân khấu (phần 3)

Âm thanh lưu động – Khi âm nhạc không còn giới hạn ở sân khấu (phần 4)

Nguyễn Hào

Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây

Tìm hiểu về phòng đo Jupiter bí mật của Dynaudio