Ampli – Điều gì làm nên sự khác biệt về chất âm (phần 5)

Trong bài viết ngày hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về tác động của dạng méo thường gặp khác có thể ảnh hưởng đến chất âm của ampli, đó là méo đáp tuyến tần số và méo pha.

Đối với những ampli hiện đại, méo đáp tuyến tần số thường cực kỳ hiếm gặp, do đó đây không phải là một vấn đề nghiêm trọng. Thế nhưng đối với một vài thiết kế (thường là thiết kế ampli đèn ba cực, mạch single ended, hay còn gọi là ampli SET), méo đáp tuyến tần số có thể gây ra một vài vấn đề. Tác động thường gặp là các dải tần số không được khuếch đại đều nhau, do đó ở cả hai phía của đáp tuyến tần số, âm lượng thường sẽ ở mức độ bất thường. Đối với ampli bán dẫn, việc đáp tuyến tần số của ampli khi ở mức năng lượng thấp có thể mở rộng xuống các dải thấp hơn phạm vi 20Hz – 20kHz sẽ được coi là bất thường. Thế nhưng với những thiết kế mang tính đơn giản, với ampli SET class A và ampli bán dẫn class A có hiện tượng tự cảm, đáp tuyến tần số của chúng sẽ kém lý tưởng hơn bình thường.

Meo tuyen tinh

Ngày nay, đối với bất cứ ampli nào cũng vậy, trong phạm vi từ 20Hz đến 20kHz, khi so sánh với dải tần số tham chiếu ở quãng trung (thường là 1kHz, nhưng thực tế là 905Hz, lý do sẽ được giải thích ngay dưới đây), chênh lệch không nên vượt quá 0.5dB. Đây là một con số khá nhỏ, vì thế thường nếu mất đi chúng ta cũng sẽ chẳng thể nhận ra. Dù vậy, hầu hết ampli đều đáp ứng yêu cầu này rất tốt. Trong phạm vi từ 10Hz đến 50kHz thường không có dấu hiệu suy hao.

Các quãng tám trong phạm vi nghe được thường có cao độ như sau:
20Hz – 40Hz: Quãng tám số 2
40Hz – 80Hz: Quãng tám số 3
80Hz – 160Hz: Quãng tám số 4
160Hz – 320Hz: Quãng tám số 5
320Hz – 640Hz: Quãng tám số 6
640Hz – 1280Hz: Quãng tám số 7
1280Hz – 2560Hz: Quãng tám số 8
2560Hz – 5120Hz: Quãng tám số 9
5120Hz – 10240Hz: Quãng tám số 10
10240Hz – 20480Hz: Quãng tám số 11

Để xác định tần số ở giữa hai điểm mút của một quãng tám, ta sẽ nhân tần số thấp hơn với căn bậc 2 của 2 (1.414), như vậy điểm giữa tần số 640Hz và 1280Hz phải là 904.96Hz hoặc 905Hz chứ không phải 1kHz như bên nhà sản xuất vẫn thường sử dụng.

Gần như mọi ampli sẽ xử lý tốt các dải tần số ngay cả khi chúng vượt quá mức phạm vi cần được xử lý chính xác, với mọi mức năng lượng cần thiết để đáp ứng yêu cầu tạo ra âm thanh chuẩn. Vậy tại sao có một số ampli lại khó tái hiện được tốt các dải cao? Điều này thực ra khó giải thích vì chưa một phép kiểm tra nào cho thấy sự bất thường ở các dải tần số cao trên những ampli đó. Điều thú vị là một vài ampli có thiết kế đơn giản (chủ yếu là ampli SET) mang đáp tuyến tần số kém hơn so với ampli bán dẫn nhưng lại được mô tả là có khả năng tái hiện các dải cao một cách “rực rỡ” hay “trong suốt”.

Meo hai tong

Chúng ta khó có thể diễn giải được các mô tả đó sang đặc tính vật lý vì trước hết, chúng hoàn toàn là ý kiến chủ quan và thứ hai, không một bài kiểm tra có khả năng cho ta thấy được những phẩm chất đó. Việc duy nhất người dùng có thể làm là quyết định xem những yếu tố đo được nào có thể đem đến hiệu ứng âm thanh như vậy.

Có một điều khá chắc chắn, đó là méo đáp tuyến tần số không tạo ra sự khác biệt ở những tần số riêng rẽ như vậy, vì những ampli có độ méo đáp tuyến tần số tương đối cao vẫn có thể giống với những ampli với độ méo rất thấp. Hiện tượng đảo pha cũng không phải nguyên nhân, vì những ampli xuất hiện nhiều đảo pha đôi lúc cũng tương đối giống với những ampli gần như không có đảo pha. Một trong những khác biệt lớn nhất mà ampli SET thể hiện là lượng méo hài chẵn bậcthấp thường khá cao. Mặc dù những yếu tố này có thể đem đến chất âm khác biệt cho từng ampli, nhưng khó có thể khẳng định rằng chỉ có méo hài mới tác động đến các dải âm cao hay còn có những yếu tố nào khác nữa.

ampli Viva Audio Solista MKIII va Solistino chuan

Méo pha cũng xuất hiện ở nhiều ampli, và thường nghiêm trọng nhất đối với những ampli sử dụng biến áp xuất âm hay cuộn cảm (còn gọi là choke). Tác động của hiện tượng này là một số dải tần sẽ bị chậm lại với số lượng nhỏ. Hiện tượng này có thể giải quyết ngồi gần loa hơn, chỉ cần vài milimet là đủ. Hiện tượng này thường được cho là không nghe thấy được và các bài kiểm tra thực tế cũng đã chứng minh điều này.

Như vậy, phải có một cơ chế nào đó khiến những người làm công việc đánh giá sản phẩm mô tả một ampli kém trong việc tái hiện lại các dải cao, chẳng hạn như thiếu đi sự trong suốt hay chi tiết. Có rất ít bằng chứng từ việc đo đạc có thể giải thích được vì sao lại có những ý kiến như vậy. Có thể đó chỉ là ý kiến chủ quan, hoặc có thể do hiện tại chưa một phép đo vật lý nào có thể cho chúng ta biết điều gì đang diễn ra, nhưng chắc chắn một điều, những người làm review chuyên nghiệp có thể nghe được nhiều thứ hơn bình thường chúng ta vẫn nghe, và đó là cả một quá trình tập luyện khá lâu dài.

(Hết )

Xem:

Ampli – Điều gì làm nên sự khác biệt về chất âm (phần 1)
Ampli – Điều gì làm nên sự khác biệt về chất âm (phần 2)
Ampli – Điều gì làm nên sự khác biệt về chất âm (phần 3)
Ampli – Điều gì làm nên sự khác biệt về chất âm (phần 4)

Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây

Lịch sử hình thành thương hiệu McIntosh

Bách Diệp