Ampli tích hợp Accuphase E-800

Cũng giống như các sản phẩm từng được ra mắt trước đây, Ampli Accuphase E-800 là một siêu ampli tích hợp class A với công suất khá mạnh, tập trung nhiều vào các trải nghiệm âm nhạc hơn là những tính năng không cần thiết khác.

Accuphase E-800 thực ra không hẳn là một cỗ máy quá xa lạ. Nó từng được giới thiệu lần đầu vào năm 2019 và thông qua những đánh giá ban đầu, đây vẫn là một trong những sản phẩm kết tinh mọi hiểu biết cũng như kinh nghiệm của thương hiệu Accuphase về ampli cho đến ngày nay. Phương hướng phát triển của E-800 thực ra vẫn đi theo con đường an toàn, do đó người nghe không nên kỳ vọng vào một sự thay đổi đột phá về mặt chất âm tổng thể. Dù vậy, chúng ta có thể tin tưởng rằng Accuphase cho ra mắt E-800 là có lý do chính đáng, và những gì mà nó thể hiện sẽ rất chỉn chu, tinh tế, giống như những gì mà các thiết bị tiền nhiệm từng làm trước đây.

AccuphaseE 800

Thiết kế ampli tích hợp Accuphase E-800

Có thể thấy hầu hết các chi tiết trong thiết kế của Accuphase E-800 đều được phát triển từ power-amp class A A-48 và ampli tích hợp tiền nhiệm E-650. Tất cả đều được kết hợp lại trong một thân máy đồ sộ, với kích thước 465 x 502 x 239mm và nặng tới 36kg. Thiết kế bên ngoài của cỗ máy này là một thiết kế rất điển hình của Accuphase, với mặt trước dày dặn, làm bằng nhôm, được sơn anode hoá màu vàng sâm-panh và có hai đồng hồ VU khá lớn. Chúng có nhiệm vụ cho biết mức công suất đầu ra của ampli, với giới hạn phạm vi là 50dB. Nếu như cảm thấy các đồng hồ này dễ gây mất tập trung khi đang nghe nhạc, đèn đồng hồ có thể tắt đi hoàn toàn.

Nhìn chung, E-800 là một chiếc ampli tích hợp bình thường của Accuphase. Thế nhưng, “bình thường” đối với một thương hiệu high-end như Accuphase cũng có nghĩa là được áp dụng những công nghệ tiên tiến nhất của họ. Một trong những công nghệ đó là Accuphase Analog Vari-gain Amplifier, hay còn gọi một cách ngắn gọn là AAVA.

AccuphaseE 800 trong

Về bản chất, AAVA là công nghệ điều chỉnh âm lượng của Accuphase, tập trung vào việc thay đổi âm lượng một cách chính xác nhất, ít gây ra nhiễu, méo tín hiệu nhất. Núm xoay âm lượng lớn ở mặt trước trên thực tế chỉ đóng vai trò làm bộ tạo xung, sau đó gửi đến mạch AAVA. Mạch này hoạt động với nguyên lý chuyển nạp tín hiệu âm nhạc vào mạch chuyển đổi điện thế qua dòng (V-I), sau đó phân thành 16 nấc dòng điện và được điều khiển qua mạch On/Off dùng chip xử lý. Các bước nhỏ của mạch chỉnh âm lượng được chia ra rất chi Ii, với mỗi bước chỉ ở mức 0.2dB để đảm bảo có thể tạo ra được các thay đổi nhỏ nhất. AAVA thực chất cũng là một phần của mạch khuếch đại, không sử dụng chiết áp bằng điện trở thông thường và không thay đổi trở kháng dù tăng âm lượng. E-800 sử dụng thiết kế Balanced AAVA, đồng nghĩa với việc có tới 2 module AAVA mỗi kênh với cấu trúc cân bằng toàn phần từ đầu vào cho tới đầu ra.

Giống như các thế hệ trước, tầng power-amp của E-800 được lắp trên các tấm tản nhiệt đồ sộ ở hai bên thân máy và tách riêng thành hai kênh khác nhau. Mỗi kênh sẽ sử dụng 12 sò MOSFET tạo thành cấu trúc đẩy kéo. Để đảm bảo khả năng kiểm soát loa tốt nhất, đặc biệt là đối với driver woofer, hệ số damping của E-800 đã tăng thêm 25% so với E-650, lên đến con số 1000. Công suất của nó khá ấn tượng so với một ampli class A, đạt mức 50 watt/kênh ở trở kháng 8 Ohm và tăng lên gấp đôi với trở kháng 4 Ohm. Tuy nhiên, quá trình sử dụng cho thấy trên thực tế, mức công suất mà nó tạo ra còn cao hơn hẳn so với lý thuyết.

AccuphaseE 800 sau

Accuphase luôn đảm bảo rằng thiết bị của mình có khả năng phối ghép với nhiều thiết bị nhất có thể. Bên cạnh các cổng đầu vào XLR và RCA thường thấy, thiết bị cũng được trang bị mạch chỉnh âm sắc, cân bằng âm lượng hai kênh cũng như jack headphone 6.3mm, với khả năng đánh những mẫu tai nghe có trở kháng thấp, đòi hỏi công suất rất cao. Những ai là tín đồ của bằng cối cũng sẽ tìm thấy đầy đủ các cổng kết nối cũng như thiết lập phù hợp. Các chế độ như đảo pha, chuyển sang mono hay bù âm trầm cũng đem đến khả năng sử dụng tiện lợi hơn. Như mọi lần, hầu hết các nút chức năng đều được đặt trong một khay phụ, có thể mở ra bằng cách ấn nhẹ vào. Bên cạnh đó, E-800 có thể hoạt động giống như một preamp hoặc power-amp, với khả năng cho các tầng này hoạt động riêng rẽ. Cũng nhờ vậy mà người nghe có thể xây dựng hệ thống bi-amp thông qua việc sử dụng cổng đầu ra XLR và RCA. Thông thường, đối tác để làm hệ thống bi-amp sẽ là một power-amp của Accuphase, chẳng hạn như ampli A-48 class A. Bên cạnh đó, thiết bị còn có hai khe phụ để cắm thêm module DAC hoặc module phono nếu cần.

Trải nghiệm

Để thử nghiệm, ampli được phối ghép cùng cặp loa B&W 802 D3, nguồn phát là đầu đĩa Accuphase SACD player DP-560 với dây interconnect AudioQuest WEL Signature cả XLR và RCA. E-800 được lắp thêm một module DAC-50 nên nguồn phát thứ hai được sử dụng là laptop MSI với các file nhạc FLAC 16-bit/44.1kHz.

Một trong những đặc điểm dễ nhận thấy nhất ở Accuphase E-800 là chất âm tương đối sáng, rất tự nhiên và thể hiện độ chi tiết rất cao – một điều thường gặp ở những ampli tích hợp cao cấp sử dụng bán dẫn. Màn biểu diễn của Ana Caram trong bản Telephone Song được trình bày một cách rất tinh tế, có độ mở và khá chính xác về mặt thời gian, với sự nhẹ nhàng, thoải mái không một chút lên gân nào, cho thấy khả năng kiểm soát khá tốt của ampli E-800.

Khi chuyển đổi giữa các cổng đầu vào, ta sẽ thấy màn trình diễn có một chút thay đổi nhẹ, với chất âm cực kỳ mở khi chơi qua cổng kết nối XLR. Đối với cổng RCA, chất âm có phần hơi bó và được làm tròn trịa một chút. Trong khi đó, nếu sử dụng mạch DAC-50 và kết nối thông qua cổng coaxial, khả năng trình diễn của hệ thống rất ấn tượng, với chất lượng gần như bằng với lúc sử dụng cổng XLR. Do đó, việc sử dụng DAC ngoài để kết nối với ampli là điều hoàn toàn không cần thiết.

AccuphaseE 800 dep

Yếu tố nổi bật nhất trong quá trình trải nghiệm hệ thống có lẽ chính là âm trường và âm trường. Dàn nhạc giao hưởng của Chadwick trong bản Jubilee đã có sự mở đầu rất ấn tượng khi ngay từ những nốt nhạc đầu tiên đã thể hiện rõ ràng không gian nơi thực hiện bản thu âm cả về chiều cao, chiều sâu cũng như độ mở rộng sang hai bên, như thể bản nhạc được trình diễn bằng một hệ thống preamp – power-amp rời chứ không phải ampli tích hợp. Sự rộng lớn này được thể hiện rất rõ ngay cả khi sau đoạn dạo đầu, dàn nhạc rơi vào trạng thái tĩnh vài giây trước khi tiếp tục. Có thể thấy, dù không sở hữu mức công suất quá cao, những màn trình diễn của E-800 vẫn rất giàu năng lượng, không hề đem đến cảm giác bị hụt hơi hay yếu đuối chút nào.

Kết luận

Accuphase E-800 là một trong những lựa chọn ampli tích hợp cao cấp khá hiếm hoi đến từ Nhật Bản. Khi bước ra thị trường, đối thủ của nó là những sản phẩm được đánh giá là rất xuất sắc như Hegel, Ayre, Pass Labs… Tuy nhiên, người ta vẫn lựa chọn Accuphase bởi chất âm đặc trưng của nó. Đó là một chất âm rất cuốn hút, dung hoà cả hai yếu tố chính xác cũng như nhạc tính, từ đó đem lại những màn trình diễn đỉnh cao hiếm khi nào thấy được.

Nguyễn Hào

Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây