Power ampli Arcam FMJ P49 - Tapchihifi.com

Amply công suất Arcam FMJ P49 – Mang lại sự rõ ràng, sắc nét

Tuesday 26/12/2017 9:00 am GMT +7

Power ampli Arcam FMJ P49 là một chiếc ampli thực sự đạt chất lượng cao với sự cung cấp rõ ràng và sắc nét trong tầm giá

Xem thêm:

Lần đầu tiên tôi gặp kĩ sư điện tử John Dawson là vào năm 1979 tại một triển lãm âm thanh ở Anh. Công ty A&R Cambridge mà ông là người đồng sáng lập vừa cho ra mắt thị trường chiếc amply tích hợp 40Wpc mỏng, trang nhã A60 trị giá chỉ £99 (tương đương 217USD).
Cùng thời gian tôi viết bài review cho Mk.2 vào tháng 10 năm 1984 cho tạp chí Hi-Fi News & Record Review, giá của A60 lên đến £199, tương đương 248USD. Hiện nay công ty mang tên Arcam và đã hơn 22.000 chiếc A60 được bán ra thị trường, khiến nó trở thành một trong những chiếc amply bán chạy nhất tại Anh.

Power ampli Arcam FMJ P49 chat

Một trong những bản nhạc thử thách cho việc tái tạo âm bass của amply chính là bản cover “Limit to your love” trong dub-step CD, trong đó giọng hát rất đặc trưng của Blake cùng với hợp âm piano đã được củng cố bằng những âm subbass âm vang. Với sự kết hợp của Arcam và loa GamuT RS7 mà có độ mở âm bass thấp, bản nhạc này đã chứng minh sự kiểm soát tuyệt vời của P49 đặc biệt là khi mới bắt đầu, khi nhịp điệu của hai tones bass khá gần nhau tạo nên những tiếng đập lớn.
Bởi P49 có một đầu ra class G lớn, tôi đã theo dõi điện áp đầu ra của nó trong suốt một buổi nghe thử sử dụng loa YGA. Ở mức nghe thông thường của tôi, với bản Gaucho của Steely Dan tại mức đỉnh là 90dB, mức RMS không bao giờ vượt quá 7V. P49 cư xử như thể một chiếc amply công suất lớn 50W/17dBW với một khoảng không đầy năng động.

Sự so sánh

Trong vài năm qua, tôi đã sống dựa vào những chiếc amply cực kì đắt tiền như Ayre Acoustics MX-R Twenty, Bel Canto Black, Bricasti M28, Lamm M1.2 Reference và  MBL Corona C15. Tất cả những chiếc monoblock đó đều có giá thấp nhất là 20.000 USD/cặp.
Tuy nhiên, các tín đồ của âm thanh vẫn còn lưu giữ những mẫu review ban đầu của chúng tôi như chiếc monoblocks Pass Labs XA60.5 mà tôi đã viết bài review vào Tháng Một năm 2014 và chiếc monoblocks Parasound Halo JC 1 mà Michael Fremern đã review vào Tháng Hai năm 2003. Với mức giá lần lượt 11.000 USD/cặp và 9.000 USD/cặp. Chiếc amply Pass Labs do Nelson Pass thiết kế và Parasounds của John Curl có mức giá tương tự với FMJ P49 của John Dawson và mức giá gần như giống hệt nhau khi P49 được sử dụng như một cặp trong dạng biamped hoặc bridged-mono.

Power ampli Arcam FMJ P49 trong bo dan

FMJ P49

Panel nhôm màu đen phía trước của Power ampli Arcam FMJ P49 trông khá đơn giản và gần như không có tính năng gì đặc biệt. Bên trên nó chỉ có duy nhất một nút nguồn, một nút nhấn để kích hoạt đầu ra của hai cặp loa và phía dưới là một khe khá kín đáo chạy suốt chiều dài của amply nhằm cung cấp không khí làm mát cho bộ tản nhiệt bên trong. Hộp thép chống ồn cũng có màu xám đen với những lỗ thông khí trên mặt và dưới đáy panel phục vụ cho mục đích làm mát. Cũng như hai cặp thiết bị đầu cuối loa, bảng điều khiển phía sau cung cấp một đầu vào cân bằng XLR và một đầu vào không cân bằng RCA với một công tắc trượt để lựa chọn. Ngoài ra còn một cặp đầu ra của Preamp RCA để phản chiếu tín hiệu đầu vào. Hai nút trượt khác để điều khiển điện áp (25 hoặc 30dB) và Stereo hay hoạt động Bridged-Mono.
P49 có thể sử dụng như một bộ amp như một bộ amply âm thanh nổi, cùng với một loa đầu ra chủ động, nối biwired với cả hai đầu ra loa chủ động, một amply mono biamp với đầu ra âm thanh stereo độc lập cung cấp cho các phần thấp và cao của loa hoặc monoblocks công suất lớn với hai kênh amply nối tiếp. Cách vận hành P49 tại một trong những trạng thái trên đã được hướng dẫn vô cùng chi tiết, đầy đủ.

phoi ghep Power ampli Arcam FMJ P49

Bên ngoài đơn giản, bên trong thanh lịch. Một máy biến áp hình xuyến lớn nằm ngay sau phía trái của panel phía trước, tiếp đến là bộ tản nhiệt chiếm phần lớn bề rộng của panel. Được đặt trên bồn là ba cặp thiết bị lưỡng cực ON Semiconductor ThermalTrack 200W cho cổng đầu ra của mỗi kênh với cảm biến nhiệt độ thích hợp.
Cổng đầu ra được hoạt động trong class-G, điều đó có nghĩa là có hai cặp đường dẫn điện áp dương và âm để cấp cho các bóng bán dẫn đầu ra. Những bóng bán dẫn đầu ra thường có điện áp từ ±35V nhưng khi điện áp tín hiệu đầu vào sẽ dẫn đến hiện tượng giảm bớt trong khoảng 50W đến 8ohm thành bộ đẩy MOSFET ±65V, cho phép các tín hiệu được khuếch đại bởi cùng một thiết bị lên đến 200W mà không cần phải giảm bớt. Class G cho phép bộ cấp nguồn được thiết kế tiết kiệm hơn bởi đường điện áp cao chỉ có thể cấp dòng cho một phần của chu kỳ nhiệm vụ của tín hiệu. Các đường điện áp thấp cung cấp những dòng liên tục theo đòi hỏi của loa.
Đọc sơ qua những bài giới thiệu của Arcam cho ta thấy rằng thiết bị đầu ra lệch với Class A. Tuy nhiên với mức tải 8 ohm, có nghĩa là mỗi dòng nghỉ 1.75A cho mỗi kênh và một amply dẫn nóng cho dù bộ tản nhiệt lớn hơn rất nhiều. Quan sát kĩ hơn ta thấy bảng mạch đầu ra “bao gồm một mạch sửa lỗi độc quyền có thể điểu chỉnh dòng nghỉ vừa phải trong cổng đầu ra và đảm bảo trở kháng đầu ra gần như không đổi ở mức cao nhất lên đến khoảng ±4  amps tương ứng 50W thành 8ohms. Do vậy, P49 hoạt động chính xác như một bộ amply class A tại mức năng lượng này về công suất mà không hề bị thiệt về nhiệt”.

Nghe

Tôi không nói rằng Arcam FMJ P49 cung cấp sự rõ ràng, sắc nét nhưng chỉ với mức giá dưới 5000 USD  thì về mặt này nó thực sự đạt chất lượng cao. Trong khi chuẩn bị cho bài review này, tôi đã mua “At Newport 1955–1975: The Bootleg Series Vol.4” của Mile Davis. Đĩa 2 bao gồm một mục đặc biệt từ Tháng Bảy năm 1966 của Davis “Bộ năm thứ 2 tuyệt vời”: Wayne Shorter với tenor sax, Herbie Hancock với piano, Ron Carter chơi bass đôi, và Tony Williams chơi trống. Carter bắt đầu “All Blues” với một tốc độ nhanh khủng khiếp, nhịp độ gấp ba lần. Tiếng kèn trumpet của Miles vượt xa ra khỏi bản hòa tấu với một chút lấn át của tiếng trống và bass. Tuy nhiên với sự xuất hiện của Arcam trong hệ thống, tất cả nghe đều nhịp nhàng, hợp lý kể cả đối với những đĩa thu mono đã 50 năm tuổi.

Power ampli Arcam FMJ P49 dep

Tôi có thể dễ dàng nghe thấy sự khác biệt giữa bản sonat Violin 10 trên dây G, op.96 được biểu diễn bởi nghệ sĩ violin David Abel và nghệ sĩ Julie Steinberg và bản thu âm đôi Violin Sonata 1 trên dây G, Op.78 của Brahm. Cả hai màn trình diễn đều được thu âm bằng một cặp đủ các loa Schoeps. Thông qua Arcam, cả hai đều được các nhạc sĩ thể hiện rất tuyệt. Tuy nhiên, nhạc của Beethoven được thu trong băng đĩa ReVox A77 có một sự cân bằng sắc nét hơn và hình ảnh âm thanh bất định hơn so với Brahms, thứ được thu bởi máy thu âm Ultramaster do John Curl thiết kế.

Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây

Loa âm trần, âm tường lựa chọn cho biệt thự cao cấp

Nguyễn Hào