Biên niên sử Hi-Fi: 1950 – 1964 (phần 3)

1950 – 1964 là giai đoạn các nhà sản xuất bắt đầu hoàn thiện dần kiến thức về loa, từ đó khiến chúng trở nên nhỏ gọn hơn, hiệu quả hơn. Điều này góp phần khiến Hi-fi trở nên phổ biến rộng rãi trong thời kỳ này.

Bất kỳ nghiên cứu nào liên quan đến Thời kỳ Vàng của hi-fi cũng đều xoay quanh loa. Các thiết bị điện tử của thời kỳ này khi được phục chế một cách cẩn thận sẽ cho âm thanh rất tốt và rất hiện đại, nhất là khi được đặt trong một hệ thống hiện đại với các loa có độ nhạy tốt. Thế còn đối với loa của Thời kỳ Vàng thì sao? Đối với loa thì không đơn giản. Chúng ta có một cái tên rất kinh điển, bắt đầu mẫu loa QUAD ESL huyền thoại. Hãy nhớ rằng QUAD có vấn đề rất nghiêm trọng về độ động so với loa hiện đại và phạm vi “điểm ngọt” cho âm thanh stereo chỉ chưa đến 60cm, thậm chí còn ít hơn.

loa quad esl 57 hay

Lựa chọn loa điện động luôn là điều khó khăn: chất âm của những mẫu loa Bờ Tây với độ nhạy cao như JBL hay Altec không phải lúc nào cũng được ưa thích (đặc biệt là người hâm mộ nhạc cổ điển), trong khi các mẫu loa từ Bờ Đông như AR và KLH thường có độ nhạy và độ phân giải thấp (độ méo IM cao, phân tần không được tốt lắm). Các driver tweeter thường rất kém, với độ méo cao, tích tụ quá nhiều năng lượng, khả năng phản hồi không tốt. Chất lượng weeter và phono cartridge phụ thuộc rất nhiều vào công nghệ vật liệu, mà những nghiên cứu về vật liệu chúng ta có ngày nay còn chưa được bắt đầu ở thời điểm đó.

Nhưng tất nhiên, lúc nào cũng sẽ có một vài ngoại lệ. Tweeter màng nón ngày nay đã đi vào lãng quên, thế nhưng đã có thời Bozak và Peerless cho ra những màng nón giấy đường kính 5cm với nắp chống bụi 2cm làm bằng nhôm. Những màng loa nón ấy có chất lượng rất tốt, bỏ xa màng loa dạng vòm thời bấy giờ. Phải đến tận những năm 1990, tweeter màng vòm 2cm mới có khả năng thay thế tweeter màng nón của 40 năm trước. Tweeter của những mẫu loa họng kèn cổ có chất lượng rất đa dạng, thế nhưng không chiếc nào có đáp tuyến tần số vượt quá 15kHz hay có khả năng tỏa âm rộng.

loa quad esl 57

Các driver midrange màng vòm thời ấy thực sự có chất lượng rất tệ so với tiêu chuẩn bây giờ, với độ méo IM rất cao do màng loa rung lệch từ bên này sang bên kia do không có màng nhện. Loa Bờ Đông thường không thể chỉnh sửa được, bởi một khi đã thay là thay toàn bộ, từ driver, thùng loa, phân tần, vật liệu lót thùng, ê-căng cho đến dây loa, tất cả những gì còn lại của bản gốc là logo ở mặt trước mà thôi.

Thứ đáng để lưu tâm nhất của thời này có lẽ là các driver màng nón giấy sử dụng nam châm Alnico, mặc dù chúng chưa chắc dùng được ở thùng loa có lỗ thông hơi hay các thùng loa kín. Lưu ý rằng driver dùng cho loa họng kèn thường có khoảng hành trình rất ngắn, có thể bị hỏng nếu sử dụng ở loa thùng kín hay loa có lỗ thông hơi.

Danh tiếng của nam châm Alnico không phải chỉ là tâng bốc quá đáng; sự khác biệt mà nó đem lại là có thật và lý do rất đơn giản. Tất cả các điện động động đều hiện tượng tự cảm ở một số dải tần nhất định. Đối với driver woofer hay midwoofer, hiện tượng tự cảm trở nên rất rõ rệt trong phạm vi từ 300 đến 500 Hz trở lên (ngay cả khi đáp tuyến tần số đo được phẳng đến tận dải 3kHz). Suy hao dòng điện do hiện tượng tự cảm của cuộn voice coil nhờ vào phản ứng cơ học tăng tiến (giống như ở cartridge nam châm động).

Hiện tượng tự cảm của cuộn voice coil luôn hiện hữu và luôn nối tiếp với đường dẫn tín hiệu âm thanh. Thứ mà người ta thường không chú ý là loại cuộn dây. Tất nhiên, đó sẽ là cuộn dây lõi sắt, vì vậy có những vấn đề liên quan đến tuyến tính cần phải giải quyết. Cuộn dây lõi ferrite là một thứ rất khác so với cuộn dây lõi Alnico. Loại tốt nhất trong số đó sẽ là sắt mềm, thường được sử dụng trong các loa điện từ cổ, nhưng muốn sử dụng thì phải quay trở lại thập niên 30 bởi công nghệ này không còn được áp dụng nữa.

vintage acoustic research AR

Những lõi từ cực bọc đồng của các driver hiện đại do Scan-Speak, Skaaning hay Vifa sản xuất sẽ là lựa chọn tốt, có thể loại bỏ từ 60 đến 90% hiện tượng tự cảm ở voice coil. Vấn đề còn sót lại là lõi ferrite. Trong tương lai, có thể ta sẽ thấy lõi từ cực bọc đồng sử dụng nam châm Alnico hay nam châm điện. Đó sẽ là một công nghệ áp dụng những tinh túy của thập niên 30, 50 và 90 vào làm một. Tuy nhiên, hiện tại công nghệ đó vẫn chưa xuất hiện, và người dùng vẫn phải lựa chọn hoặc chất âm cổ điển nhạc tính cao, hoặc những driver hiện đại với độ chính xác cao và độ méo tiếng thấp.

Thành tựu lớn nhất của mảng thiết bị điện kể từ Thời kỳ Vàng không phải chất lượng âm thanh, mà là cắt giảm về kích thước và chi phí. Quy đổi ra đô la Mỹ, thiết bị điện tử ngày nay rẻ hơn nhiều so với 40 năm trước. Một chiếc radio Silvertone thời đó giá 400 đô thì này có giá tận 1000 đô, chủ yếu là do trượt giá. Liệu có ai bỏ 1000 đô để mua một chiếc radio để bàn không? Đến đây chắc ai cũng rõ câu trả lời. Tuy nhiên, dù đã giảm giá thành sản xuất, khó có thể nói rằng ampli thời hiện đại sẽ hay hơn về mặt chất âm. Về mặt thông số kỹ thuật, chúng chắc chắn sẽ hơn hẳn, thế nhưng chất âm chưa chắc đã thực sự vượt trội hoàn toàn.

Ngược lại, công nghệ làm loa đã có nhiều thay đổi đáng kể sau hơn 50 năm, chủ yếu nhờ vào công nghệ vật liệu và kỹ thuật thiết kế. Suy cho cùng, việc sử dụng loại vật liệu như gỗ hay nhôm nguyên khối, sử dụng driver màng kim cương hay Beryllium, thiết kế thùng loa trên máy tính hay chỉ đơn giản như dùng nhiều lớp gỗ với độ dày khác nhau để làm thùng loa là những điều chỉ đến gần đây mới xuất hiện. Cách đây 50 năm, những thứ đó chưa hề tồn tại.

Biên niên sử Hi-Fi: 1950 – 1964 (phần 1)

Biên niên sử Hi-Fi: 1950 – 1964 (phần 2)

Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây

Giới thiệu dòng loa Pylon Diamond

Nguyễn Hào