Biên niên sử Hi-Fi: 1970 – 1980 (phần 3)

Nếu có thứ gì ở giai đoạn này khiến người ta phải lo lắng cho tương lai của ngành công nghiệp hi-fi thì đó chính là ampli bán dẫn và CD. Thời điểm đó, các kỹ sư âm thanh vẫn chưa vượt qua được rào cản về mặt công nghệ để khiến các thiết bị này có âm thanh tốt hơn.

Quay sang lĩnh vực thiết bị điện tử, chúng ta đều biết rằng lúc này bán dẫn đã xuất hiện và dần thay thế cho các bóng đèn điện tử chân không, đem đến ưu thế công suất vượt trội. Tuy nhiên, power-amp của giai đoạn cuối thập niên 60, đầu thập niên 70 hỏng rất nhiều và chất âm cũng rất kém. Nhiều người tin rằng lẽ ra những chiếc ampli này không nên xuất hiện trên thị trường trước khi công nghệ sử dụng bán dẫn trở nên hoàn chỉnh. Các kỹ sư đầu thập niên 70 vẫn phải giải quyết vấn đề như duy trì biên pha (phase margin) phù hợp với các mức trở kháng của loa, đảm bảo độ ổn định cho hồi tiếp Nyquist, giữ thiết bị ở ngưỡng hoạt động an toàn cho cả tầng lái lẫn tầng đầu ra.

harman kardon citation xii x2

Nhìn chung, ampli ở giai đoạn này đều có chung những đặc điểm sau: nhiều hồi tiếp, độ méo hài tổng đo được rất thấp (giao động trong khoảng 0.03%). Các số liệu đo đạc được đều rất tốt, thế nhưng khi trở thành thành phẩm để bước ra thị trường thì độ tin cậy lại quá thấp. Thời kỳ này người ta ghi nhận không ít trường hợp transistor tầng lại bị đoản mạch, điện trở bias bị bốc khói, lửa bùng ra từ khe thông hơi của ampli.

Thế rồi, phép màu bắt đầu xuất hiện. Giữa thập niên 70, Matti Otala đăng một bài viết trên tập san của Hiệp hội Kỹ thuật Âm thanh với những phát hiện liên quan đến méo điều biên tức thời (TIM – transient intermodulation distortion). Ngay lập tức, giới kỹ sư âm thanh chia ra làm hai phe. Phe phản đối cho rằng những điều mà Otala nêu ra cực kỳ hoang đường, sẽ chẳng mang lại kết quả tốt đẹp, trong khi phe ủng hộ cho rằng đã tới nước này, tại sao không thử áp dụng những lý thuyết mà Otala đưa ra, thiết kế ampli với một phương pháp tiếp cận hoàn toàn mới.

Matti Otala

Trong cuộc tranh luận này, phe ủng hộ Matti Otala đã dành chiến thắng khi mà những chiếc ampli mới sở hữu chất âm hay hơn hẳn thế hệ cũ, đồng thời tỉ lệ hỏng cũng giảm hẳn, chỉ còn chưa đến 1%. Nhiều người tin rằng kết quả này là nhờ băng thông lớn lên đến 200kHz cùng biên pha lên tới 60 độ, cả hai đều là những thứ chưa từng được áp dụng ở thời điểm đó. Nhìn chung, nghiên của của Otala có ảnh hưởng đến các kỹ sư thiết kế ampli bán dẫn. Bên cạnh đó, cũng khó có thể nói không với những nghiên cứu này, khi mà vận tốc tăng thế cao cùng biên pha lớn đã giúp cho thiết bị ít hỏng đi rất nhiều. Suy cho cùng, khách hàng lúc nào cũng đánh giá cao những thứ ít hỏng hóc.

Kể từ cuối thập niên 70, Sony và Philips đã bắt tay với nhau để nghiên cứu, phát triển một loại định dạng lưu trữ mới và đến năm 1980, chuẩn CD Red Book ra đời. Không phải ai cũng tin vào câu slogan “Âm thanh hoàn hảo mãi mãi” (Perfect Sound Forever), nhưng chí ít họ cũng tin tưởng rằng âm thanh digital sẽ là một bước tiến lớn trong lịch sử ngành công nghiệp. Suy cho cùng, Sony và Philips phát triển CD là để thay thế cho các định dạng analog vốn có quá nhiều vấn đề. Với đĩa than, đó là hiện tượng méo tiếng khi chơi gần hết đĩa, nhiễu ồn, căn chỉnh mâm và kim đọc đĩa… Còn với băng từ, những lỗi tốc độ thiếu nhất quán, nhiễu IM, chỉnh EQ hay bias cho băng… Các định dạng digital hoàn toàn tránh đước những lỗi này, nhìn chung tiềm năng của chúng có thể cao hơn đĩa than hay băng từ gấp trăm lần. Trên lý thuyết, chất âm của chúng nên trong suốt, rõ ràng, giàu chi tiết giống như một chiếc ampli tốt.

cd red book

Thế nhưng, ngày đĩa CD bắt đầu ra mắt, những luồng ý kiến trái chiều lại bắt đầu nổi lên. Những người không ủng hộ CD cho rằng âm thanh của chúng quá khô, sắc, chói và rất khó nghe, thậm chí xuất hiện hiện tượng rách tiếng nếu chơi với âm lượng lớn. Xén ngọn tín hiệu cũng là vấn đề mà đĩa CD gặp phải. Bên cạnh đó, chất âm còn rất thiếu tự nhiên. Những đoạn lặng xuống thì lại tĩnh hẳn như thể người ta tắt máy đi hoàn toàn, trong khi cảm giác về không gian, về âm hình và vị trí gần như không hề có. Và những ai phản đối đều tin chắc rằng đó không phải là lỗi đến từ hệ thống của họ.

Thế nhưng, phe đối lập lại hoàn toàn có lý lẽ riêng của họ khi ủng hộ cho CD. Âm thanh của CD sạch đến mức bất ngờ, không chút nhiễu ồn hay tạp âm, méo tiếng nào xuất hiện, điều mà chẳng một hệ thống analog nào làm được. Và chắc chắn một điều, những người ủng hộ cho đĩa CD không phải là những kẻ tay mơ, chỉ mới bắt đầu học nghe nhạc. Trong số đó có không ít người là kỹ sư âm thanh, chuyên thiết kế ampli, có những người là nhạc sĩ, chơi ở các dàn giao hưởng. Và việc họ yêu thích loại định dạng mới này không chỉ đảm bảo được tương lai của CD, mà còn cho thấy đối với âm nhạc, mỗi người sẽ có những cảm nhận khác nhau, có thể có người sẽ cho rằng nó rất hay, nhưng cũng có người tin là nó lại dở tệ.

Biên niên sử Hi-Fi: 1970 – 1980 (phần 1)

Biên niên sử Hi-Fi: 1970 – 1980 (phần 2)
Bạn có thể tham khảo sản phẩm khác tại đây

Những điều cần biết về bóng đèn điện tử NOS cho ampli đèn

Nguyễn Hào