Cơ đĩa than – Những điều chưa kể (Phần 5)

Nhiều người tin rằng Technics SP-10 là mâm đĩa than dùng bộ cơ direct-drive, thế nhưng thực tế cho thấy mâm đĩa than direct-drive đã xuất hiện từ rất lâu trước đó rồi.

Nhiều người chắc hẳn sẽ rất bất ngờ khi biết rằng Western Electric đã từng thiết kế mâm đĩa than direct-drive từ những ngày đầu của ngành công nghiệp audio. Cho những ai chưa biết, Western Electric chính là công ty khởi nguồn cho hầu hết các tiến bộ, phát triển mang tính đột phá của thế giới audio. Họ xuất hiện trong bài viết này không chỉ bởi từng góp phần làm nên sự ra đời của phim điện ảnh có tiếng, mà còn bởi phần tiếng ấy xuất hiện chính là nhờ đĩa thu âm, một điều không phải ai cũng biết đến.

Cỗ máy mà chúng ta đang nói đến ở đây là Vitaphone. Cỗ máy này phụ trách tạo ra âm thanh cho khá nhiều bộ phim, chủ yếu gắn liền với studio Warner Bros, với sản phẩm đầu tiên là bộ phim Don Juan năm 1926. Bộ phim khi ấy chỉ có nhạc nền và hiệu ứng âm thanh chứ chưa có thoại. Kỷ nguyên phim thoại chỉ thực sự bắt đầu một năm sau khi bộ phim The Jazz Singer chính thức xuất hiện. Trong bộ phim này, phần nhạc do ca sĩ Al Jolson thể hiện, thoại cũng xuất hiện ở một vài cảnh nhưng không xuyên suốt cả bộ phim.

he thong tich hop may chieu

Hệ thống tích hợp máy chiếu – mâm đĩa than Vitaphone

Vitaphone được xem như là thành quả của Bell Labs cùng bộ phận sản xuất của họ – Western Electric. Âm thanh được thu lại trên đĩa 40cm, quay với tốc độ 33 1/3 vòng/phút, hoàn toàn giống với các đĩa vinyl sau này. Khi chạy với tốc độ này thay vì sử dụng tốc độ tiêu chuẩn 78 vòng/phút thời đó, đĩa âm thanh sẽ khớp với thời gian chạy của băng phim dài 300m, tương đương với tầm 11 phút. Khoảng cách rãnh đĩa được thiết kế để duy trì vận tốc hiệu dụng trung bình, từ đó đảm bảo được chất lượng âm thanh. Giới hạn đáp tuyến tần số quãng trên là 4300Hz, như vậy là chưa đủ để gọi là toàn dải, nhưng vẫn ổn cho việc tái tạo lại lời thoại cũng như hầu hết các nhạc cụ cơ bản.

Mâm đĩa than khi ấy được nối trực tiếp với máy chiếu. Nhiệm vụ của người chiếu phim khi ấy phải chỉnh kim thủ công tới một điểm được đánh dấu trên nhãn đĩa, sau đó đĩa sẽ được chơi theo chiều từ trong ra ngoài, ngược hoàn toàn so với cách chạy đĩa hiện nay. Vì toàn bộ hệ thống ở trong phòng chiếu, tiếng ồn không phải vấn đề quá nghiêm trọng, nhưng để khớp âm thanh với phim lại là chuyện khác. Motor truyền động được nối với máy chiếu, sau đó truyền động cho mâm xoay thông qua trụ và bánh răng. Kết cấu của máy rất đồ sộ, cho phép sử dụng liên tục, đồng thời cũng hoạt động giống như máy chiếu thực thụ vậy.

Những mâm đĩa than này hoàn toàn sử dụng các bộ cơ máy công nghiệp, để lắp ráp cực kỳ đắt đỏ và bảo dưỡng cũng khá tốn kém. Thế nhưng, chúng cũng chỉ tồn tại được vài năm để rồi bị loại bỏ hoàn toàn khi phim ảnh động tích hợp âm thanh xuất hiện vào thập niên 30. Với phong cách chạy kim ngược và tốc độ chậm so với tiêu chuẩn thời ấy, để chuyển chúng thành máy hát thông thường gần như là bất khả thi.

Mâm đĩa than dành cho các trạm phát sóng cũng sử dụng cơ máy công nghiệp, được thiết kế để hoạt động liên tục trong một khoảng thời gian rất dài, lên đến hàng năm trời mà ít bị hỏng hóc. Những đặc điểm quan trọng nhất bao gồm khởi động nhanh, tốc độ nhất quán liên tục và độ nhiễu ồn phải thấp, mặc dù các yêu cầu về nhiễu ồn chủ yếu liên quan đến các nhiễu truyền qua kim chứ không phải qua không khi. So sánh với hầu hết các mâm đĩa than tiền tỉ ngày nay, những mâm đĩa than chuyên dụng, dùng cho phim ảnh và đài phát thanh khiến hầu hết mâm đĩa than dân dụng chỉ như đồ chơi trẻ con. Với motor cỡ lớn, có momen quán tính lớn cùng kích thước đồ sộ, mâm đĩa than chuyên dụng có kích thước đồ sộ, giống như một chiếc máy giặt chứ không hẳn là chiếc mâm đĩa than cơ bản mà chúng ta thường thấy hiện nay.

RCA 70 D drive

Hình ở trên là thiết kế chi tiết của một trong những mâm đĩa than cho đài phát thanh phổ biến nhất vào thập niên 40 và 50, RCA 70-D. có thể thấy toàn bộ hệ truyền động của cỗ máy này như sau: Motor cỡ lớn sẽ được gắn vào một đế nặng, nối trực tiếp và truyền động cho mâm đĩa than thông qua bánh răng côn, bộ ly hợp ướt sử dụng các giá đỡ bôi trơn bằng dầu, trục lái với khớp nối linh hoạt và một bộ ly hợp khác dùng để ngăn chặn việc chạy quá mức. Phía trên trục lái trong sơ đồ, có thể thấy đường viền của bánh đà giúp đảm bảo sự thống nhất về tốc độ.

Nhìn chung, đây là một thiết kế rất tinh vi, thậm chí đến tận bây giờ chúng vẫn được sử dụng. Bên cạnh việc chơi các bản nhạc, chúng còn dùng để chạy các đĩa thu chương trình phát thanh đã được lưu sẵn. Đĩa chạy cho máy cũng giống như đĩa Vitaphone, đường kính 40cm, tốc độ 33 1/3 vòng/phút. Hai đĩa như thế là đủ cho một chương trình phát thanh dài 30 phút. Điều này giúp cho các trạm radio linh hoạt hơn trong việc sắp xếp chương trình của mình.

(Hết kỳ 5)

Bạn có thể xem thêm phần khác tại đây 

Cơ đĩa than – Những điều chưa kể (Phần 1)

Cơ đĩa than – Những điều chưa kể (Phần 2)

Cơ đĩa than – Những điều chưa kể (Phần 3)

Cơ đĩa than – Những điều chưa kể (Phần 4)

Cơ đĩa than – Những điều chưa kể (Phần 6)

Cơ đĩa than – Những điều chưa kể (Phần 7)

Cơ đĩa than – Những điều chưa kể (Phần 8)
Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây

Những bộ cơ mâm đĩa than thường gặp hiện nay

Nguyễn Hào