Đánh giá hệ thống hiend đẳng cấp dCS Vivaldi

Đánh giá hệ thống hiend đẳng cấp dCS Vivaldi

Sunday 04/11/2018 9:00 am GMT +7

Bộ bốn thành phần Vivaldi được ra mắt vào cuối năm 2012 với những công nghệ mới vượt xa những gì có thể tưởng tượng.

Xem thêm:

Hơn một thập kỉ trước, hệ thống chuyển đổi dữ liệu Data Conversion Systems hay còn goi là dCS đã phát hành Elgar Plus DAC, Purcell Upsampler và bộ chuyển đổi Verdi SACD/CD với tổng giá trị $34.000. Năm 2009, một bộ bốn thành phần Scarlatti với mức giá $80.000 cũng xuất hiện riêng lẻ. Những biến thể mới nhất của một công ty Anh đó là bộ bốn thành phần Vivaldi được ra mắt vào cuối năm 2012 với mức giá cả bộ là $108.496.
Đối với những người quen thuộc với bộ Scarlatti thì Vivaldi có vẻ bề ngoài rất lôi cuốn và bắt mắt bởi chiều cao mới. Những hộp được điêu khắc rất độc đáo với màu bạc mờ cùng những họa tiết lượn sóng ở bề mặt trước của nó khiến khi nhìn vào bạn đều có cảm giác dễ chịu và rất mềm mượt khi chạm vào.

dCS Vivaldi DAC

Bốn thành phần bao gồm: thứ nhất, Vivaldi DAC có mức giá $34.999 có thể giải mã tất cả các độ phân giải kĩ thuật số, từ MP3 đến DSD, DXD (một định dạng 24-bit/358,8kHz được sử dụng chủ yếu cho việc chỉnh sửa các file DSD) và tất cả mọi thứ giữa khoảng đó. Thứ hai, Vivaldi Upsampler ($19.9000) có thể tăng dữ liệu MP3 với độ phân giải thấp nhất lên 24/384, DSD và DXD hay bất cứ định dạng nào ở giữa. Thứ ba, Vivaldi Master Clock ($13.499) chứa hai nhóm của bốn đầu vào clock, thành phần có thể trở thành một bộ độc lập. và cuối cùng, Vivaldi Transport ($39.999) – một củ loa SACD/CD rất mượt mà, tĩnh lặng, tốc độ dựa trên cơ chế đĩa Esoteric VRDS Neo của TEAC và được rất nhiều người đánh giá là tốt nhất trên thế giới. Nó được điều khiển bởi thiết kế dCS xử lý tín hiệu điện tử và cũng có thể chuyển đổi CD thành DSD hoặc DXD.

Những thay đổi quan bên trong

So với những sản phẩm trước đây, cấu trúc vững chắc của những thành phần Vivaldi đã được nâng cấp, bao gồm những đĩa nhôm dày được  gia công những lỗ không đối xứng có chứa nhiều miếng giảm sóc. Sự kết hợp đó có thể làm giảm tình trạng rung động. Tuy nhiên, bên trong Vivaldi DAC đã có những thay đổi vượt xa so với vẻ ngoài của nó.

dCS Vivaldi DAC ben trong

Trong khi những sản phẩm dCS đều được xây dựng dựa trên công nghệ độc quyền Ring DAC của công ty thì Vivaldi lại dựa trên một phiên bản hoàn chỉnh của khái niệm Ring DAC. Ring DAC trước đây sử dụng chốt tứ (một yếu tố mạch mà có thể ngay lập tức “đảo lộn” giữa hai trạng thái ổn định) để lựa chọn nguồn hiện tại dựa vào điện trở màng kim loại. Thiết kế Ring DAC vẫn bao gồm những chốt tốc độ cao và điện trở màng kim loại, nhưng thay vì sử dụng nhiều chốt riêng biệt để loại bỏ những chốt giữa, kết quả nhiễu xuyên âm trên chip có độ méo thấp hơn. Việc tăng tổng số chốt sẽ tạo nên hiệu quả sử dụng tốt hơn với dải động có sẵn của DAC. Một cặp phần mềm tốc độ cáo có thể nâng cấp (FPGA) sẽ thay thế bản đồ chip ROM của Scarlatti, cho phép những lỗi đơn lẻ ở nguồn của DAC có thể ngẫu nhiên hóa, giảm thiểu độ méo bằng 3dB.

Thiết lập và sử dụng

Thiết lập hệ thống Vivaldi có thể khá phức tạp nhưng khi bạn chi gần $110.000 cho một hệ thống playback kĩ thuật số thì bạn có thể nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ các đại lý. Hệ thống đa dây nối, bao gồm dây AES/EBU – cả hai đều dùng để kết nối Transport và Upsampler đến DAC và dây nối thứ năm để kết nối Transport với Upsampler – năm kết nối word-clock, bốn dây AC chính là một dây nối trong mơ của các nhà sản xuất.
Nhưng một khi tất cả mọi thứ được thiết lập cho bạn, cách đi dây nối cho mỗi đầu vào và rất nhiều biểu tượng màn hình sẽ được giải thích theo cách của riêng bạn. Tin tôi đi, cho đến khi bạn có thể nhận biết và ghi nhớ được ý nghĩa của tất cả các biểu tượng bạn mới không còn cảm thấy cô đơn.

dCS Vivaldi DAC black

Lựa chọn của bạn dường như là bất tận. Ví dụ, bạn có thể gửi Transport trực tiếp tới DAC thông qua kết nối kép AES/EBU cái mà sẽ gửi tín hiệu DXD trong định dạng gốc của nó và bạn nên chọn những CD Upsample tới DSD hay DXD – hoặc bạn có thể gửi tín hiệu CD đến DAC thông qua S/PDIF hoặc AES/EBU và chơi chúng ở độ phân giải nguyên bản – hoặc bạn cũng có thể gửi những dữ liệu CD đến Upsampler thông qua kết nối đơn AES/EBU bằng cách lựa chọn đầu vào AES của Upsampler, chơi chúng ở tần số 24/44,1 (đầu ra tự động Upsampler là 24bit) – hoặc bạn cũng có thể tải mẫu dữ liệu CD ở đó thành PCM hay DSD với độ phân giải lớn hơn.
Vivaldi DAC có sáu lựa chọn bộ lọc cho PCM, với bốn bộ nhiều hơn dành cho DSD playback. dCS cho rằng với dữ liệu PCM, bốn bộ lọc đầu tiên sẽ mang đến những sự cân bằng khác nhau giữa sự phản đối hình ảnh siêu âm. Filter 1 đem đến rất nhiều sự từ chối, Filter 2-4 cung cấp sự phản đối những hình ảnh tăng dần và hiệu suất miền thời gian tốt hơn. Đối với dữ liệu có tỉ lệ mẫu từ 176.4kHz đến 384kHz, luôn có thêm hai bộ lọc bổ sung, một bộ với Gaussian và một bộ khác không tương xứng hầu như không gợi nhắc trước. Với những dữ liệu CD,  Filter 5 cũng là một kiểu không đối xứng, Filter 6 là một thể loại pha tuyến tính rất sắc nét. Những bộ lọc DSD dần thoát ra khỏi tiếng ồn siêu âm của định dạng, trong trường hợp có những vấn đề toàn bộ hệ thống.

dCS Vivaldi DAC dep

Khi Vivaldi Upsampler và DAC được kết nạp các dữ liệu thông qua USB hay Upsampler thông qua Ethernet, tỉ lệ mẫu đi vào có thể là bất kì thứ gì nằm trong khoảng từ 44.1kHz đến 192kHz và thậm chí là DSD. Khi Vivaldi Master Clock có hai nhóm đầu ra word-clock độc lập, bạn có thể thiết lập một nhóm đến 44,1 kHz và nhóm  khác ở 48kHz. Bằng cách đó, bạn có thể ít bắt phải sự tĩnh lặng thay vì âm nhạc bởi vì tần suất đồng hồ không giống như một sự đa tần số của chuỗi bit đi vào. Khi chúng được kết nối bởi link kép AES/EBU, cả Vivaldi Upsampler lẫn DAC đều chuyển đổi một cách chính xác giữa những đồng hồ ở 44,1kHz và những nhánh của nó (bao gồm DSD) và 48kHz cùng các nhánh của nó.

Những hứa hẹn kĩ thuật số cuối cùng có được thỏa mãn?

Trước khi thực hiện bất kì bài nghe thử nào tôi cũng đều tự hỏi làm thế nào mà sự tái tạo những bản ghi PCM của Vivaldi có thể so sánh với bản ghi Signature DAC IV của MSB với bộ cung cấp nguồn Diamond ($43.325) mà tôi đã mượn cùng với bộ chuyển đổi Platinum Data CD IV. Combo MSB đã tạo nên những âm thanh kĩ thuật số tốt nhất mà tôi từng được nghe. Đó rõ ràng là một bước nhảy vọt từ những bản CD playback và đĩa thu PCM hi-rez của dCS Scarlatti, đặc biệt là ở độ mở tổng thể và không gian ba chiều, những âm thanh màn hình lớn trừ đi độ sáng và những âm thanh ngắn gọn khác.
Khi hệ thống MSB và Scarlatti không còn trong hệ thống của tôi nữa, tôi không thể làm những so sánh trực tiếp. Tuy nhiên, dựa trên kí ức của tôi, Vivaldi ngay lập tức nghe có vẻ mở rộng hơn và ít dè dặt hơn so với Scarlatti, trong đó những đồ tạo tác kĩ thuật số trước đây dường như có thể đạt được những điều đó bằng cách ẩn giấu chúng đi trong những gói âm thanh ấm áp của nó. Và đúng là âm thanh trở nên cởi mở hơn, minh bạch hơn đặc biệt là đa chiều và không gian lớn hơn bất kì thứ gì mà tôi đã từng trải nghiệm cùng với kĩ thuật số. Chúng cũng tạo nên những kết cấu âm nhạc thuyết phục nhất mà tôi từng được nghe từ âm thanh kĩ thuật số, 100% không có bìa cứng hoặc đồ tạo tác kim loại.

dCS Vivaldi DAC tot

Live at the Academy of Music 1971: The Rock of Ages Concerts của The Band khắc họa sự hòa quyện của những cuốn băng multitrack gốc của nhà sản xuất thu âm mới Bob Clearmountain và được giám sát bởi Robbie Robertson. Nó nghe không có gì giống với SACD của Mobile Fidelity Sound Lab hay những đĩa vinyl có nguồn gốc từ những bản mix gốc. Cả SACD và LP đều nghe rất ấm áp với rất nhiều âm thanh phòng cùng với sự rò rỉ không thể tránh khỏi từ màn hình sân khấu. Chúng cũng nhấn mạnh những âm bass và trống cùng với bộ gõ, guitar và những âm tần cao chi tiết.
Greatest Hits của The Zombies luôn là một trong những tiêu chuẩn SACD của tôi. Rod Argent trên đàn piano điện tử, ca sĩ Colin Blunstone và phần còn lại tạo nên những giai điệu nhạc pop độc nhất hết sức du dương với phần hòa âm chặt chẽ được đẩy lên bằng những nhịp điệu nhịp nhàng. Những ca khúc “Tell Her No,” “She’s Not There,” “You Make Me Feel So Good,” và tất nhiên cả “Time of the Season” chính là điểm nhấn, và rất nhiều những ca khúc ít nổi tiếng khác đều trở thành đáng giá.

Kết luận

Các thành phần dCS Vivaldi đã tạo nên những thanh âm có kết cấu hết sức tinh tế, dẻo dai và đầy tính nhạc được bao trùm rất nhiều màu sắc và sự sống. Những âm tầng và khả năng hình ảnh của nó vượt xa tất cả những gì mà tôi tưởng tượng nó có khả năng làm được đối với kĩ thuật số.
Một số người có thể thấy sự khó khăn phức tạp của Vivaldi nhưng nếu như bạn sẵn lòng dành cho chúng một chút thời gian, bạn sẽ vận hành được nó một cách hết sức dễ dàng. Phụ thuộc vào nhu cầu của mình, bạn có thể bỏ đi cùng với DAC hoặc combo DAC-and-clock, cái mà có thể trực tiếp điều khiển ampli của tôi, tạo nên những âm thanh kĩ thuật số với độ phân giải cao mà tôi có thể dễ dàng cảm nhận.

Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây

Kiến thức vật liệu làm màng loa

Thanh Thanh

Từ khóa:

dCS