Đĩa than – thế giới đặc biệt của audiophile (phần 1)

Sự trở lại của đĩa than trong vòng một thập niên trở lại đây cho thấy đây vẫn là một loại hình giải trí khó có thể bỏ qua. Trong loạt bài viết này, chúng ta đi sâu hơn vào thế giới của đĩa than.

Âm thanh luôn là một phần quan trọng trong đời sống của con người. Thế nhưng, trước những năm 1800, con người không thể lưu giữ lại được yếu tố này. Đối với nhiều người, điều này có vẻ khá kỷ lạ, vì với radio, TV, đĩa CD, cassette, máy nghe nhạc, thậm chí xe hơi với những hệ thống âm thanh cao cấp cùng một loạt phương thức lưu trữ âm thanh khác, thế giới của chúng ta tràn ngập âm thanh, cả trực tiếp cũng như được tái tạo lại.

dau dia than lucxar mobalick

Trong số các phương thức lưu trữ âm thanh từng xuất hiện trong lịch sử, những chiếc đĩa than với thời lượng dài có lẽ là một trong những phương thức lâu đời nhất và được yêu thích nhất. Ngày nay, không còn nhiều công ty chuyên nghiệp sản xuất đĩa than nữa, và không phải bất cứ hệ thống âm thanh nào cũng được trang bị mâm đĩa than. Tuy nhiên, đĩa than vẫn được tìm kiếm bởi những tín đồ âm thanh quá yếu thích loại hình này. Thậm chí, trong vòng một thập niên trở lại đây, chúng ta đang được chứng kiến sự trở lại của đĩa than, không chỉ với những bản thu cũ từ các loại hình như nhạc Jazz hay Opera, của những tên tuổi nổi tiếng như Frank Sinatra hay Beatles. Không ít nghệ sĩ ngày nay cũng thực hiện bản thu mới của mình trên đĩa than.

Lịch sử đĩa than

Đĩa than với thời lượng dài mà chúng ta biết đến ngày nay vốn là kết quả của bản thu đầu tiên do Thomas Edison thực hiện vào ngày 20/11/1877. Rất nhiều phát minh của ông bắt nguồn từ hiểu biết sâu sắc về khoa học. Ở thời điểm ấy, Edison biết rằng bản chất của âm thanh chính là sự rung chuyển của phân tử không khí chạm đến tai người nghe, tác động đến màng nhĩ. Sự chuyển động này được truyền qua xương nhỏ bên trong tai, sau đó dừng lại ở bộ não. Bộ não có nhiệm vụ “giải mã” các rung chuyển này và chuyển đổi chúng thành âm thanh. Số lượng rung chuyển xuất hiện trong một giây được gọi là tần số âm thanh, Biên độ (hoặc kích cỡ) của các rung chuyển này sẽ được chuyển thành mức độ âm lượng. Bất cứ âm thanh nào cũng sẽ có hai đặc tính này, vì thế để thu âm được tiếng chim, tiếng dàn nhạc giao hưởng hay tiếng người hát, thứ đầu tiên chúng ta cần thu được chính là sự rung chuyển của không khí.

dau dia than lucxar optimus

Máy chạy bản thu đầu tiên do Edison tạo ra có tên là Victrola, có khả năng thu âm và phát lại. Để làm điều này, đầu tiên ông sử dụng một ống trụ bằng kim loại, với hai đầu để mở, phần thân được cuốn bằng một tấm giấy thiếc. Khi nói vào một đầu thu được gắn với một đầu kim, các rung động mà Edison tạo ra khi nói sẽ được đầu kim khắc lên lớp giấy thiếc. Các đường khắc này sẽ có hình dạng giống như rãnh cứ thế trải dài quanh ống trụ. Để chơi lại bản thu này, Edison sẽ đẩy đầu kim về một đầu bản thu và cho quay ống trụ với tốc độ như khi thu âm. Rung chấn do đĩa rung tạo ra sẽ được khuếch đại bởi đầu thu mà Edison nói vào (thời kỳ này vẫn chưa sử dụng họng kèn để khuếch đại âm thanh).

Theo sau phát minh này là một loạt những cải tiến quan trọng, trong đó có việc thay thế ống trụ bọc giấy thiếc thành ống trụ bọc sáp. Ngày nay, hầu hết mọi người đều công nhận Jules Levy là nghệ sĩ đầu tiên thực hiện các bản thu kiểu này. Ông đã chơi bài Yankee Doodle bằng kèn cornet và ống trụ sáp ghi lại bản thu của ông có thể chơi tại nhà bằng máy Edison Parlor Speaking Phonograph (máy thu âm gia dụng đầu tiên). Cỗ máy vào năm 1878 được bán với giá 10 đô một chiếc, thế nhưng không được bán chạy cho lắm bởi khi ấy, người ta không thực sự hứng thú với sản phẩm này.dau dia than lucxar optimus dd

Năm 1887, Valdemar Poulsen, một nhà khoa học người Đan Mạch sử dụng cùng phương pháp để thu âm trên một cuộn dây nhiễm từ. Bước sang thế kỷ mới, ngành công nghiệp thu âm chứng kiến việc người ta sử dụng các ống cuộn làm từ những vật liệu khác nhau để có thể lưu bản thu vĩnh viễn. Thế nhưng, từ thế chiến thứ hai trở đi, băng từ lại được sử dụng rộng rãi để làm phương thức lưu giữ âm thanh, và cuối cùng trở thành các bản thu mà chúng ta biết ngày nay. Những công ty hàng đầu như RCA Victor nhận ra rằng băng từ có độ trung thực cao hơn, chất lượng âm thanh tốt hơn hẳn so với các phương thức khác. Đồng thời, nó cũng dễ và chỉnh sửa để rút gọn, kéo dài hay bỏ lỗi đi khỏi các bản thu.

Quay trở lại với đĩa than, chiếc đĩa đầu tiên được Emile Berliner làm hoàn chỉnh vào năm 1889, chạy trên hệ thống gramophone khác biệt hoàn toàn với máy phonograph dùng ống trụ bọc sáp của Edison. Hệ thống này chính thức xuất hiện tại Mỹ 5 năm sau đó, được sản xuất bởi thương hiệu Emile Berliner. Đây cũng là lần đầu tiên đĩa than được làm bằng vật liệu shellac và rất nhanh chóng, shellac trở thành vật liệu tiêu chuẩn để làm đĩa than tới gần 40 năm sau. Mãi đến năm 1931, RCA Victor mới trình làng đĩa than làm bằng vinyl, với chất lượng vượt trội hơn hẳn so với đĩa shellac thông thường. Đồng thời, đĩa than bằng vinyl cũng góp phần làm thay đổi một yếu tố rất quan trọng của thiết bị, đó là tốc độ.

dau dia than lucxar zeitlos

Đến tận những năm sau Thế chiến thứ hai, đĩa than vẫn chỉ chơi được với một tốc độ duy nhất: 78 vòng / phút. Năm 1948, Peter Carl Goldmark (1906-1977) phát minh ra đĩa than có thể chạy được với tốc độ chỉ bằng gần một nửa: 33.33 vòng / phút, đồng thời thiết kế rãnh đĩa cũng hẹp hơn so với trước đây. Hai yếu tố này kết hợp với nhau giúp đĩa than mới có thời lượng gấp 6 lần so với đĩa than truyền thống. Do đó,các album và các bản giao hưởng đã có thể lưu hết chỉ trong một đĩa thay vì cả một bộ vài đĩa so với trước đây.

(Hết phần 1)

Các bạn có thể xem thêm phần khác tại đây 

Đĩa than – thế giới đặc biệt của audiophile (phần 2)

Đĩa than – thế giới đặc biệt của audiophile (phần 3)

Đĩa than – thế giới đặc biệt của audiophile (phần 4)

Đĩa than – thế giới đặc biệt của audiophile (phần 5)

Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây

Lịch sử hệ thống âm thanh stereo

Nguyễn Hào