Huyền thoại audio: Deane Jensen (phần 1)

Không phải ai cũng biết đến cái tên Deane Jensen, thế nhưng đối với giới audio chuyên nghiệp, những thiết bị do ông làm như op-amp, biến áp lại là thứ mà họ không thể thiếu.

Cái tên “Jensen” đã trở nên quá đỗi quen thuộc với nhiều người, từ những thành viên của các câu lạc bộ DIY (Do-it-yourself) hay những kỹ sư âm thanh chuyên nghiệp trong lĩnh vực audio. Nhắc đến Jensen, người ta sẽ nghĩ đến một thứ giống như chuẩn mực của sự hoàn hảo về mặt kỹ thuật, đặc biệt là đối với biến áp. Và trong suốt nhiều năm, có thể trong cả tương lai, điều này vẫn sẽ luôn đúng, nhất là khi vài năm trở lại đây, thương hiệu Jensen Transformers trở thành thành viên của một nhóm các công ty thuộc tập đoàn Radial Engineering. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết lý do vì sao Jensen lại là một cái tên được nhiều người biết đến, và đằng sau đó là cả một câu chuyện rất dài.

Sinh năm 1942, Deane Jensen lớn lên ở Princeton, New Jersey. Cha ông là tiến sĩ Arthur S. Jensen, người gốc Na Uy, là một nhà vật lý học, từng nhận bằng tiến sĩ ở trường Đại học Pennsylvania. Sau đó ông trở thành một chuyên gia về điện – hình, sở hữu 25 bằng sáng chế và dạy học ở Học viện Hải quân Mỹ. Tiến sĩ Arthur về sau làm việc cho cả RCA Labs và Westinghouse Defense and Electronics Center. Thậm chí, một người xuất chúng như Albert Einstein cũng có quan hệ với Arthur S. Jensen.

deane jensen

Cũng giống như cha mình, Deane về sau theo học ở Đại học Pennsylvania, chuyên ngành vật lý và kỹ thuật điện tử. Chàng sinh viên trẻ từng làm kỹ sư trưởng studio cho WXPN-FM – một đài FM dành cho học sinh, sinh viên. Sau khi ra trường, Jensen làm việc cho một vài phát thanh viên ở Baltimore và Washington DC cũng như ở một studio thu âm tại Camden, New Jersey trước khi chuyển về California.

Giữa những năm 1960, ngành công nghiệp thu âm đã có những bước phát triển vượt bậc. Giờ đây, không chỉ làm công việc thu âm lại các buổi biểu diễn trực tiếp, họ còn sử dụng các kỹ thuật studio để đem đến những hiệu ứng mà biểu diễn trực tiếp không thể làm được. Album Sgt. Pepper’s Lonely Hearts Club Band của Beatles phát hành năm 1967 chính là minh chứng rõ nhất. Trong suốt giai đoạn này cũng như đầu thập niên 70, ngành công nghiệp thu âm trở nên cực kỳ cạnh tranh, từ đó dẫn đến sự phát triển nhanh chống về mặt công nghiệp.

Những thiết bị tốt nhất khi ấy sử dụng mạch khuếch đại rời dùng transistor, thường ở dưới dạng module cơ bản được thiết kế khép kín. Mặc dù vi mạch tích hợp (IC) sử dụng op-amp analog đầu tiên được giới thiệu vào năm 1963, yếu tố giá thành khiến chúng chỉ được dùng rất hạn chế. Phải đến tận năm 1968, khi những IC giá rẻ, dễ sử dụng xuất hiện, chúng mới bắt đầu được phổ biến dần. Tuy nhiên, trong nhiều năm liền, chất lượng âm thanh của những IC này rất kém và phải khá lâu về sau, những IC op-amp với chất âm tốt mới bắt đầu ra đời và được ứng dụng cho âm thanh chuyên nghiệp. Dù vậy, hầu hết transformer âm thanh cấp thấp của thời này chỉ là phiên bản làm lại từ những thiết kế vốn sử dụng cho công nghiệp hoặc viễn thông.

audio technology

Năm 1966, Deane bắt đầu chuyển sang Hollywood, làm việc với tư cách là kỹ sư hệ thống cho Studio Electronics Corp. (sau này là UREI), cha đẻ của các bộ hạn chế LA-2A và LA-3A rất nổi tiếng. Sau này, Jensen còn làm ở nhiều vị trí khác, nhiều công ty khác và những vị trí này giúp ông có thể hiểu biết cũng như cảm nhận nghệ thuật sâu sắc.

Năm 1969, Deane làm giám sát cho quá trình lắp đặt console Quad Eight ở studio A của Wally Heider Recording Studios, nơi ông đang làm việc với tư cách cố vấn. Năm 1971, Bill Whitlock – kỹ sư trưởng của Quad Eight rời công ty và bổ nhiệm Jensen vào vị trí của mình.

Deane tiếp tục làm việc cho Wally Heider, một huyền thoại của thời bấy giờ với vai trò vừa là kỹ sư studio, vừa là kỹ sư thu âm từ xa. Đó là thời điểm các nhóm nhạc rock như Grateful Dead, Fleetwood Mac hay Crosby Stills & Nash vẫn còn trên phong độ đỉnh cao. Năm 1972, Heider cử Deane sang API Audio ở New York để giám sát công việc sửa lỗi, cải thiện cho bus và nhận bàn giao bàn console thu âm mà API làm cho Heider. Trong thời gian này Deane Jensen cũng hợp tác với nhóm thu âm của Heider để thu âm album Before the Flood của Bob Dylan.

Kinh nghiệm tích lũy lâu năm trong ngành ghi âm cho Deane thấy rằng biến áp audio thường là nguyên nhân gốc rễ khiến chất lượng các bàn mix và hệ thống âm thanh bị kém đi. Ông quyết định bắt tay vào sửa chữa những thiếu sót, bắt đầu từ biến áp. Ban đầu, Jensen sử dụng chính căn hộ của mình ở Hollywood để vừa làm phòng thí nghiệm, vừa làm văn phòng.

deane jensen 2

Ed Reichenbach, nhà cung cấp biến áp cho Quad Eight, trước đó đã từng chế tạo biến áp theo đơn đặt hàng của Altec, Langevin, Electrodyne và những hãng khác từ những năm 1940. Deane đã sử dụng những thiết kế này làm điểm bắt đầu. Ông bị ám ảnh bởi cách các biến áp audio tương tác với các thiết bị điện tử, từ đó bắt đầu nghiên cứu để giải quyết các vấn đề liên quan đến âm thanh chất lượng kém.

Cũng trong thời gian đó, Jensen bắt đầu tối ưu hóa các op-amp audio khi còn ở Quad Eight. Sau khi rời đi, ông tiếp tục thiết kế cải tiến và cuối cùng, thiết kế đó hoàn thành vào tháng 7 năm 1979, có tên là op-amp 990. Bài báo của ông mô tả về chiếc op-amp này đã được công bố trên Tạp chí AES vào cuối năm đó.

Năm 1981, ông được trao bằng sáng chế nhờ phát hiện về đặc điểm thoái hóa cực phát cảm ứng (inductive emitter degeneration) của op-amp 990. Thiết bị này đặt ra các tiêu chuẩn mới cho sự kết hợp giữa độ nhiễu ồn và độ méo thấp, vận tốc tăng thế, độ ổn định cao và khả năng tạo công suất lớn. Khi Deane công bố op-amp này, ông cố tình công khai bằng sáng chế này như một dấu hiệu cho thấy sự cống hiến giúp cho công nghệ phát triển của mình.

(Hết kỳ 1)

Huyền thoại audio: Deane Jensen (phần 2)

Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây

Giới thiệu dòng loa Pylon Diamond

Nguyễn Hào