Huyền thoại audio: Dynaco (Phần 3)

Ở phần 2, chúng ta đã tìm hiểu về ảnh hưởng của ampli đèn do Dynaco sản xuất đến ngành công nghiệp âm thanh. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tiếp tục với những chiếc ampli bán dẫn mà họ tạo ra cũng như lý do vì sao Dynaco không còn gây dựng được ảnh hưởng như ban đầu nữa.

Dynaco bước chân vào lĩnh vực ampli bán dẫn tương đối muộn, chủ yếu vì vào thời kỳ đầu, chất âm của loại ampli này cực kỳ tệ. Thế nhưng đấy lại là một điều may mắn cho họ. Chiếc ampli bán dẫn đầu tiên của Dynaco là Stereo 120 xuất hiện năm 1966. Ở thời điểm ấy, công suất thực 60 watt đã khiến Stereo 120 trở thành một chiếc power-amp rất mạnh mẽ, nhất là khi phần lớn ampli thời bấy giờ chỉ nêu ra công suất đỉnh mà thôi.

Preamp bán dẫn PAT-4 xuất hiện một năm sau đó để tạo thành phối ghép hoàn chỉnh cùng Stereo 120. Tạp chí Stereophile lúc bấy giờ đánh giá rất cao chiếc preamp này, thế nhưng nhiều năm sau đó, J. Gordon Holt – người viết bài review cho PAT-4 nói rằng, “Chỉ vài tuần sau đó, tôi bắt đầu nhận thấy rằng nó kém hay hơn so với những ampli đèn khác mà mình từng có.”

ampli dynaco PAT 4

Với sự thành công của bộ đôi preamp – power-amp bán dẫn này, Dynaco tiếp tục mở rộng phổ sản phẩm của mình với cặp loa A-25 vào năm 1969. Giá của cặp loa khi ấy là khoảng 80 đô la. Cần nhớ rằng 80 đô la khi ấy cũng tương đương với 1000 đô la ngày nay, vì thế A-25 không phải là một cặp loa chất lượng tốt với giá thành thấp. Rất nhanh chóng, đây trở thành cặp loa dành cho những người tìm kiếm sự chung tính cũng như hoàn hảo trong chất âm tổng thể. So với tiêu chuẩn ngày nay, cặp loa này vẫn rất ấn tượng với mức giá mà người ta bán lại.

Một phần làm nên thành công của A-25 nằm ở chỗ nó do chính công ty Đan Mạch Seas – thương hiệu nổi tiếng với những chiếc driver chất lượng cao thiết kế và tạo dựng. Trong suốt thời kỳ A-25 được sản xuất, có khoảng một triệu cặp loa như vậy đã được bán ra. A-25 nhanh chóng phát triển thành một dòng sản phẩm với các cặp loa A-10, A-40 và A-50. Tất cả đều sử dụng cấu trúc “aperiodic” (phần bên trong thông hơi với một thùng loa phụ). Những cặp loa này tương đối đa dạng về kích thước, chất âm bass và công suất yêu cầu. A-25 có lẽ là cặp loa cân bằng nhất. Cứ nhìn vào doanh số bán ra của nó là có thể thấy rõ điều đó rồi.

ampli dynaco PAT 4 dep

Sau PAT-4 và Stereo 120, Dynaco cũng bắt đầu giới thiệu một loạt sản phẩm mới. Đầu tiên là phiên bản công suất thấp hơn của Stereo 120 tên là Stereo 80, ra mắt cùng năm với mẫu loa A-25. Tiếp theo là SCA-80 – chiếc ampli tích hợp kết hợp PAT-4 và Stereo 80 trong cùng một thang máy. Sau này, có một phiên bản khác của SCA-80 là SCA-80Q sử dụng mạch Dynaquad của David Hafler để tạo ra hiệu ứng âm sau cho các loa kênh đằng sau. Mặc dù đây không phải là âm thanh quadraphonic đúng nghĩa, Dynaquad vẫn rất nổi tiếng và được sử dụng để làm mạch cho chiếc QD-1 “Quadaptor”. Loạt sản phẩm này kết thúc với hai chiếc radio tuner FM-5 và AF-6 – những thiết bị mang đúng tinh thần hi-fi chất lượng cao giá thành thấp cho mọi người của Dynaco từ những ngày đầu.

Năm 1970, chiếc power-amp Phase Linear 700 xuất hiện, mở đầu cho kỷ nguyên của những chiếc ampli với công suất siêu mạnh. Mức công suất 350 watt của cỗ máy này trước đó mới chỉ thấy ở những chiếc power-amp như McIntosh MC-350 và MC-3500. Phase Linear 700 được Julian Hirsch – biên tập viên của tạp chí Stereo Review đánh giá khá cao, bởi cặp loa tham chiếu của Hirsch là AR-3a thực chất lại sử dụng điện không hiệu quả cho lắm. Kể từ đây, cuộc chạy đua công suất chính thức bắt đầu.

ampli dynaco PAT 4 hay

Dynaco bắt đầu chạy theo xu hướng này vào năm 1970 với chiếc power-amp Stereo 400. Và cũng như power-amp Mk.III trước đây, Stereo 400 là chiếc ampli ưa thích của những ai thích “độ” hệ thống âm thanh. Phiên bản độ gấp đôi bán dẫn đầu ra của Frank Van Alstine cho đến nay vẫn là phiên bản nổi tiếng nhất vì chất lượng rất cao trong khi giá thành thấp. Sau này, Dynaco cho ra mắt một phiên bản khác với công suất cao hơn là Stereo 416.

Những chiếc power-amp Stereo 400/416 là những sản phẩm cuối cùng đánh dấu thời kỳ vàng của Dynaco. David Hafler chính thức rời công ty vào năm 1974 để làm việc cho Ortofon sau khi đã bán lại Dynaco cho tập đoàn Tyco năm 1969. Sau này, ông thành lập Hafler Company. Suốt nhiều năm liên, công ty này sản xuất những chiếc ampli chất lượng cao gợi nhớ đến ampli của Dynaco thời vàng son. Bản thân Dynaco cũng phải qua tay nhiều thương hiệu khác nhau trước khi vào tay Panor Corporation năm 1991. Cũng giống như các thương hiệu một thời nổi tiếng khác như Fisher hay Scott, Dynaco cuối cùng cũng rơi vào quên lãng, không còn mấy người nhớ đến thương hiệu này nữa, chỉ trừ những ai đã từng một thời gắn bó với thương hiệu Dynaco trong suốt thời kỳ vàng của hãng và khoảng vài năm sau đó.

Thanh Tùng