Lịch sử âm thanh: Ma thuật trong chiếc hộp (phần 2)

Trong kỳ này, chúng ta sẽ phân tích mô hình vòng đời của công nghệ mà Ray Kurzweil đưa ra thông qua các ví dụ thực tế để khẳng định độ chuẩn xác của nó.

Trước khi đi vào phân tích mô hình bảy giai đoạn của vòng đời công nghệ, chúng ta cũng cần điểm qua một chút về ảnh hưởng của công nghệ và âm nhạc đối với Ray Kurzweil. Khi còn là học sinh phổ thông, ông đã từng tham gia quiz show trên truyền hình, chơi một đoạn nhạc piano mà thực chất, đoạn nhạc này được sáng tác bởi một chiếc máy tính do chính tay mình tự dựng và lập trình. Những năm 1970, Kurzweil từng phát minh máy đọc cho người mù, công cụ chuyển văn bản thành giọng nói thông qua máy tính. Nghệ sĩ Stevie Wonder từng mua máy đọc của Kurzweil, về sau trở thành người tư vấn cho ông phát minh ra synthesizer vào những năm 80. Kurzweil cho biết synthesizer ban đầu được tạo ra để mô phỏng lại âm thanh phức tạp của đàn đại dương cầm, một thứ âm thanh đầy tính cộng hưởng chứ không phải là âm thanh đã qua xử lý giống như organ điện tử. Tất nhiên, khi nói đến âm nhạc, công nghệ cũng có những giới hạn nhất định, hoặc ít nhất đối với những người đã quá quen với âm nhạc ngoài đời thực, thứ âm thanh công nghệ này vẫn còn bị hạn chế.

dan synthesizer

Vòng đời của phonograph cũng bám sát mô hình của Kurzweil, tất nhiên có vài thay đổi nhỏ. Các mâm đĩa than bước sang giai đoạn Trưởng thành khi hi-fi lên đến đỉnh cao vào thập niên 50 và stereo xuất hiện vào thập niên 60. Các máy chạy băng cối và băng thu âm trước (các băng 8 track là ví dụ rất phổ biến) đại diện cho thời kỳ Thách thức vào thập niên 70. Giai đoạn Lỗi thời chính thức bắt đầu từ những năm 1980. Sự phổ biến của băng cassette – cả băng trắng lẫn băng thu âm trước cũng chỉ kéo dài một thời gian ngắn cho đến khi đĩa quang bắt đầu xuất hiện. Đĩa quang (sau này là CD) lên đến đỉnh cao vào đầu thập niên 90 một cách nhanh chóng đến bất ngờ. Quan trọng hơn, ở đây có sự thay đổi so với mô hình gốc của Kurrzweil. Trong những năm này, mâm đĩa than đã tìm thấy sự hồi sinh. Giai đoạn Di sản không xuất hiện bởi lẽ chúng không còn là một phần của quá khứ nữa. Đĩa than không chỉ là một phần trong các hệ thống audiophile mà còn là một nhạc cụ đúng nghĩa, làm nên sự sôi động cho nhạc dance và hiphop.

Sự quay trở lại mới mẻ này thực ra chỉ là một trong những trường hợp rất hiếm hoi. Chúng ta sẽ lấy ví dụ một trường hợp khác, chẳng hạn như máy đánh chữ. Cũng giống như phonograph, máy đánh chữ là một thiết bị mới ở thời điểm nó xuất hiện vào cuối thế kỷ 19. Nó bị thay thế hoàn toàn bởi máy tính vào giữa những năm 1980. Thế nhưng, khái niệm “đánh chữ” – đại diện sớm của kỷ nguyên digital thì vẫn sống mãi, chỉ là xuất hiện ở dưới những hình thức khác nhau. Thậm chí, nó còn xuất hiện cả trên lĩnh vực âm nhạc, cụ thể hơn là chiếc piano.

Ngày nay, có lẽ không phải ai cũng biết đến pianola – một loại nhạc cụ tự động. Chiếc đàn này được phát minh chỉ sau phonograph một thời gian khá ngắn. Pianola có thể chơi được tự động. Cơ chế của cỗ máy này là dùng năng lượng hơi được bơm từ bàn đạp chân. Người ta đục các lỗ nhỏ trên một cuộn giấy, sau đó lắp cuộn giấy này lên đàn, sau đó đạp lên bàn đạp để đàn tự chơi. Ngăn dưới bàn phím có một vài switch nhỏ hoạt động giống như các nút play/pause, tua nhanh hoặc tua lùi ngày nay.

Edwin Votey được cấp bằng sáng chế cho pianola vào năm 1902. Mẫu đàn đầu tiên của Votey thực chất là một cỗ máy riêng biệt được lắp trước một cây đàn piano thông thường. Các phiên bản hoàn thiện về sau tích hợp cơ chế máy ngay trong chính đàn piano. Công ty Wurlitzer ở Cincinnati cũng giới thiệu một mẫu pianola tương tự vào năm 1898, cho thấy công chúng thời ấy quan tâm đến loại nhạc cụ này như thế nào. Pianola tiếp tục phổ biến cho đến khoảng năm 1930, khi mà radio bắt đầu xuất hiện, báo hiệu cho ngày tàn của phonograph. Thế nhưng phonograph vẫn còn tồn tại đến ngày nay trong khi pianola thì không? Tại sao lại như vậy? Bởi đơn giản, ngay cả khi có người hát cùng, pianola vẫn không thể so sánh được với chất âm phức tạp, tinh tế trên những bản thu âm. Dù vậy, theo nhà sử học Russell Sanjek, có khoảng 75000 chiếc pianola và tầm 1 triệu cuộn nhạc đã được bán ra. Pianola cũng chính là cảm hứng để người ta phát minh ra đàn organ điện tử sau này. Chỉ cần nạp chương trình là đàn organ cũng có thể tự chơi hoặc tạo ra chất âm mong muốn. Nhờ vào công nghệ, chúng ta không cần phải là nghệ sĩ cũng chơi được nhạc cụ.

Bạn có thể xem thêm phần khác tại đây 

Lịch sử âm thanh: Ma thuật trong chiếc hộp (phần 1)
Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây

Tìm hiểu về biến thế thượng

Nguyễn Hào