Lịch sử của NAD (phần 2)

Lịch sử của NAD gắn liền với những sản phẩm do họ làm ra. Và nếu nhìn vào giai đoạn thập niên 70, khó có thể tin rằng họ đã làm được rất nhiều điều chỉ trong vài năm ngắn ngủi.

Nếu không thực sự rõ về lịch sử của NAD, nhiều người sẽ nghĩ rằng chiếc ampli nổi tiếng 3020 với phong cách tối giản là kết quả tức thời của triết lý tập trung vào phân khúc hi-fi tầm trung. Tuy nhiên, đó là chuyện của 6 năm tiếp theo. Những chiếc ampli đời đầu của NAD trong hai năm 1974 và 1975 ít nhiều vẫn còn mang phong cách khá truyền thống. “Ngoại hình chắc chắn, với thiết kế giống như từ những bàn tay bậc thầy” là bí quyết để họ có thể bản được những chi NAD Model 60 (2 × 35W), NAD 90 (2 × 55W) và NAD 200 (2 × 100W), với sản phẩm đầu bảng đầy rẫy các núm xoay, switch gạt, đồng hồ VU – những dấu hiệu của sự phức tạp cần bị loại bỏ đi trong tương lai. Dù vậy, thông điệp về giá trị và chất lượng đã phần nào được thể hiện rõ trong catalogue của hãng năm 1975.

catalogue nad 1975
Catalogue của NAD năm 1975

“New Acoustic Dimension — gọi ngắn gọn là NAD — là một khái niệm mới liên quan đến chất lượng âm thanh trung thực đỉnh cao,” cuốn sách giải thích, “Các kỹ sư từ Mỹ, châu Âu và Nhật Bản cùng làm việc với các cửa hàng và đại lý phân phối hàng đầu trong ngành công nghiệp để phát triển nên một triết lý thiết kế mới – đó là đem đến những thiết bị có khả năng tái tạo âm thanh gần với nguyên gốc nhất trong điều kiện công nghệ hiện đại cho phép, với mức giá sẽ trở thành tiêu chuẩn quốc tế cho khả năng trình diễn.”

Bên cạnh “Ngoại hình chắc chắn, với thiết kế giống như từ những bàn tay bậc thầy” cùng thời gian bảo hành hai năm, NAD còn cung cấp thông số Công suất Đầu ra Phẳng (Flat Power Output), cho biết mức công suất cần thiết để đánh từ các dải cực trầm và các dải cực cao. Đồ thị đáp tuyến tần số trong catalogue rất phẳng, kéo dài từ 20Hz đến 20kHz.

Bên cạnh những thiết bị vừa liệt kê ở trên, năm 1975 NAD cũng cho ra mắt ba mẫu receiver, một máy tape deck, NAD100 tuner, bốn mẫu headphone trong đó có mẫu headphone tĩnh điện NAD 20e và headphone planar magnetic RP 18. Tất cả đều được nhận những đánh giá rất cao từ những người đã nghe thử chúng. Điều này đã giúp NAD có thể những nhà đầu tư mới, giúp thương hiệu non trẻ này có cơ hội để mở ra những khởi đầu mới.

Cũng trong catalogue năm 1975, ta đã thấy logo NAD được đặt bên cạnh logo Acoustic Research. Thế nhưng từ năm 1976, Marty Borish đã bị thuyết phục hoàn toàn về tiềm năng của NAD. Ông từ chức chủ tịch của Acoustich Research và lập ra trụ sở mới của NAD ở Anh. Băn khoăn cuối cùng vẫn là về giá thành. Ai là người có khả năng tạo ra những chiếc ampli chất lượng cao với mức giá chỉ ở tầm trung?

Câu trả lời Norwegian Bjorn ‘BEE’ Erik Edvardsen, một kỹ sư được mệnh danh là “thiên tài thiết kế ampli trẻ” thời bấy giờ. Edvardsen đã từng học ở Edinburgh, sau đó lần lượt làm việc cho ITT, Dolby Laboratories và tiếp đến là Acoustic Research. Nhờ điều này mà ông đã làm việc cho NAD ngay từ những ngày đầu của công ty với tư cách là Giám đốc Kỹ thuật, thiết lập quan hệ với thương hiệu Đài Loan Fulet Electronic để tìm linh kiện giá bình dân nhưng chất lượng cao.

ampli nad 3020

Với lợi thế này, nhóm kỹ sư ở Anh do Edvardsen dẫn đầu nhanh chóng thử nghiệm và tinh chỉnh các thiết kế của mình. Tuy nhiên, lúc này chiếc ampli 3020 vẫn chưa ra đời. Loạt sản phẩm tiếp theo ra mắt vào năm 1977 và chỉ được cung cấp cho hệ thống phân phối vốn dĩ hạn chế của họ – chủ yếu là các cửa hàng high-end muốn có trong tay những sản phẩm có thể cạnh tranh với những thiết bị mid-fi từ châu Á vốn đang thống lĩnh thị trường bình dân.

Các sản phẩm mới này bao gồm ampli tích hợp 3030, 3045, 3060 và 3080. Công suất của chúng được thể hiện qua hai con số cuối cùng trong tên, ngoại trừ 3080 vốn có công suất 90 watt mỗi kênh. Ngoài ra hãng cũng cho ra mắt tuner 4030 và 4080 cùng ba receiver 7030, 7045, 7060. Sản phẩm đầu bảng là NAD 7080 (tất nhiên công suất vẫn là 90 watt mỗi kênh). Đây cũng là chiếc receiver mở đầu cho truyền thống giới thiệu công suất ở mức trở kháng 2 Ohm trên các thiết bị của NAD sau này.

Số lượng sản xuất hạn chế của các mẫu sản phẩm năm 1978 khiến chúng giờ đây trở nên khá hiếm hoi, khá khó tìm. Bên cạnh đó, các bài review đánh giá sản phẩm không phải lúc nào cũng tích cực hoàn toàn.

Tuy nhiên, đó vẫn chưa phải là tất cả. Lúc bấy giờ NAD, cụ thể hơn là Edvardsen đang tập trung phát triển cho một sản phẩm mới, công suất khá thấp chỉ 20 watt. Thế nhưng đằng sau vẻ bề ngoài đơn giản của nó sẽ có một vài thứ khiến người trải nghiệm phải cảm thấy bất ngờ.

(Hết kỳ 2)

Bạn có thể xem thêm phần khác tại đây 

Lịch sử của NAD (phần 1)

Lịch sử của NAD (phần 3)

Lịch sử của NAD (phần 4)

Lịch sử của NAD (phần 5)
Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây

Lịch sử Munich High End Show

Nguyễn Hào