Lịch sử của NAD (phần 4)

Nếu như có một thương hiệu nào đầu tư nhiều vào công nghệ thì đó chính là NAD. Với họ, đây chính là nền tảng để làm nên thành công lâu dài.

Với thành công của ampli tích hợp 3020, NAD giờ đây đã có một lượng khách hàng to lớn, trong số đó có những người sẵn sàng bỏ tiền ra mua cả những thiết bị mới chuẩn bị được ra mắt. Nhân cơ hội này, họ đầu tư thêm ngân sách vào công cuộc nghiên cứu và cái tiến cho thiết kế cũng như các công nghệ âm thanh.

cassette NAD 6150

Năm 1981, công ty cho ra mắt đầu cassette 6150. Đây cũng là đầu cassette đầu tiên trên thế giới sử dụng công nghệ giảm nhiễu ồn Dolby C, trong khi ampli 3140 là ampli đầu tiên được trang bị Bass EQ (trong sách hướng dẫn khi ấy ghi là Speaker EQ), tăng cường thêm 12dB cho mỗi quãng tám ở các quãng trầm dưới 45Hz hoặc 70Hz tùy theo thiết lập của người dùng. Các tính năng này được thêm vào là vì ở một số loa, âm bass bị suy hao rất nhanh. Bên cạnh đó, quá trình lọc bass trong khi master đĩa than, cùng với hiện tượng sóng đứng trong phòng nghe ảnh hưởng đến các dải midbass đòi hỏi cần phải có công cụ để chỉnh sửa cho âm bass ở những quãng thấp hơn.

Lý do cuối cùng mà họ đưa ra là một số khách hàng sẽ thích chất âm trầm hơn, do đó công cụ như Bass EQ là rất cần thiết. Bass EQ cho đến nay vẫn tồn tại trên chiếc ampli D 3020 dưới dạng một nút công tắc nhỏ ở phía sau máy, nghĩa là nó chỉ có thể kích hoạt thủ công chứ không tự hoạt động độc lập được.

Đầu CD đầu tiên của NAD được công bố vào năm 1984. Sang năm tiếp theo, họ lại giới thiệu đến công chúng một công nghệ ampli khác – Power Envelope. Công nghệ này xuất hiện trên power-amp 2200 và ngày nay được phát triển thành PowerDrive, mạch khuếch đại độc quyền của NAD, sử dụng ray nguồn cấp kép để cung cấp nguồn năng lượng mạnh mẽ hơn khi cần thiết. Kết quả là chiếc ampli sẽ tạo ra tín hiệu có độ động cao, trong khi trở kháng ampli thấp giúp phối ghép được với một cặp loa 4 Ohm mà vẫn giữ nguyên được công suất khi tất cả các kênh hoạt động đồng thời cùng lúc. Nói cách khác, đây là một công nghệ khiến ampli của NAD có khả năng kiểm soát tốt, dễ dàng phối ghép với cả những cặp loa khó đánh nhất trong khi vẫn giữ được độ động ấn tượng của tín hiệu gốc.

dau cd nad 502

Năm 1991, NAD thuộc về sở hữu của chính nhà phân phối Đan Mạch AudioNord. Tình trạng này kéo dài cho đến năm 1999. Mặc dù trong thời kỳ này NAD đã có một vài thành tựu như công nghệ NAD LINK, có một vài sản phẩm như đầu CD NAD 502 hay ampli tích hợp 302 và 304, AudioNord khi ấy vẫn tập trung vào các sản phẩm stereo trong khi khách hàng tiềm năng của họ dần mở rộng sang cả mảng rạp hát tại gia và âm thanh đa kênh. Cho tới năm 1999, AudioNord bán lại thương hiệu NAD cho một nhà phân phối khác, lần này là ở Canada. Đó chính là Lenbrook.

Điều may mắn là Lenbrook không coi NAD chỉ là một thương hiệu đơn thuần. Bản thân họ cũng không tự coi mình là một nhà phân phối bình thường. NAD được chuyển giao cho Lenbrook khi vẫn còn đang trong thời kỳ mạnh nhất. Bjorn Erik Edvardsen khi ấy vẫn còn làm cho công ty, Marty Borish vẫn ở trong ban giám đốc. Với sự lãnh đạo của những chủ sở hữu mới là Robert Brown và Gregory Stidsen, họ đã quyết định không chỉ khiến NAD vĩ đại trở lại mà còn sáng lập một loạt các công ty mới chuyên về lĩnh vực âm thanh. Trong số này có một số tên tuổi rất nổi tiếng như thương hiệu loa PSB của Canada hay công ty Bluesound chuyên về lĩnh vực streaming đa phòng.

Tuy nhiên, đó không phải là một khởi đầu dễ dàng. Trong thời kỳ thuộc về Lenbrook, NAD bắt đầu sản xuất AV receiver. Năm 2002, họ cho ra mắt dòng Solution với các receiver kiêm đầu DVD. Tuy nhiên, ở thời điểm ấy NAD phải cạnh tranh với hàng loạt thương hiệu khác đã có mặt từ lâu trong lĩnh vực này, đồng thời còn phải giải quyết vấn đề liên quan đến độ tin cậy của sản phẩm cũng như sự phức tạp khó lường trước được. Chủ tịch của Lenbrook, đồng thời cũng là người đứng đầu NAD, ông Robert Brown cho biết: “Chúng tôi phải thiết kế lại cả dòng sản phẩm. Chi phí lên đến hàng triệu đô la. Thế nhưng không còn lựa chọn nào khác.

Chỉ đến năm 2003, NAD mới thật sự làm chủ được mảng này với những model receiver năm kênh, sáu kênh và bảy kênh trong dòng thiết bị AVR.

(Hết kỳ 4)

Bạn có thể xem thêm phần khác tại đây 

Lịch sử của NAD (phần 1)

Lịch sử của NAD (phần 2)

Lịch sử của NAD (phần 3)

Lịch sử của NAD (phần 5)
Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây

Tìm hiểu về biến thế thượng

Nguyễn Hào