Lịch sử về sự ra đời của loa (Phần 2)

Peter L. Jensen bắt đầu làm việc cho Acoustical Laboratory của Valdemar Poulsen. Trong thời gian làm việc ở đây, ông đã phát hiện ra cách để có giao tiếp mà không cần sử dụng đường dây.

Trong 4 năm từ 1903 đến 1903, Peter L. Jensen đã làm việc với tư cách là tập sự tại phòng thí nghiệm của Poulsen, sau đó trở thành trợ lý được trả lương cho đến khi ông gia nhập Hải Quân Đan Mạch trong thời gian từ tháng Ba đến tháng Mười năm 1909, với vai trò là điều phối viên hệ thống vô tuyến.

The first loudspeakers

Thời điểm đó, Jensen chỉ có thể nhận đồng lương khá bèo bọt, 9 Krone Đan Mạch mỗi tuần (tương đương 50 euro năm 2015). Ông nghèo đến mức phải mặc lại quần áo của cha dượng, dù rằng không vừa vặn chút nào. May mắn là, dù không phải lúc nào cũng có tiền để mua đồ ăn, những người xung quanh thường sẵn lòng giúp đỡ Jensen. Dù vậy, người thanh niên trẻ vẫn bám trụ với công việc này vì nó cực kỳ thú vị. Đối với nhiều người, ngành kỹ sư khi ấy cũng “hot” không khác gì ca sĩ, diễn viên bây giờ.

Các công việc của phòng thí nghiệm lúc bấy giờ là thao tác, cải tiến lại các phát minh của Poulsen, chẳng hạn như máy telegraphone. Chúng ta biết rằng cuối năm 1903, Poulsen, với sự trợ giúp của P.O. Pedersen, đã tạo ra máy truyền phát hồ quang điện. Vài năm sau thứ này đã cách mạng hóa lĩnh vực viễn thông vô tuyến. Năm 1904, họ quyết định tách phòng thí nghiệm làm hai để có thể tập trung vào các nghiên cứu mới. Đây là cơ hội tuyệt vời cho Jensen. Rất nhanh sau đó, ông được chuyển sang phòng thí nghiệm hồ quang điện. Lý do một tập sự vẫn được đưa vào nhóm, đó là vì ông biết cách “sắp xếp mọi thứ đúng theo vị trí của nó.”

Cuối cùng, Jensen cũng có cơ hội chứng tỏ giá trị của mình. Đó là khi ông được giao công việc tinh chỉnh mạch phát của bộ truyền phát hồ quang điện. Mặc dù công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, cẩn thận cực gắt gao, ông vẫn có thể làm chủ được nó hoàn toàn. Ngoài ra, Jensen còn tự học mã Morse và là một trong số ít các nhân viên ở đấy có thể tự đọc / gửi tín hiệu Morse. Máy truyền phát hồ quang điện cao cấp hơn máy truyền phát Marconi vì nó có tính năng chỉnh tần số, từ đó tránh can nhiễu giữa các trạm, trong khi máy Marconi sử dụng toàn phổ và chỉ cho phép một truyền phát duy nhất. Tuy nhiên, công việc tinh chỉnh quá khó khăn và tốn nhiều thời gian, đồng thời do lương thấp, người ta thường đẩy công việc này cho các tập sự, đặc biệt là khi tập sự đó nhanh nhẹn và tháo vát giống như Jensen vậy.

Nhiều phát minh và cải tiến thú vị đã trở thành một phần không thể thiếu của Peter Jensen trong quãng thời gian tuổi trẻ sống tại Copenhagen. Trong số đó, chúng ta không nhắc đến cuộc đối thoại đầu tiên được thực hiện bằng phương thức liên lạc vô tuyến. Poulsen cùng các kỹ sư lúc đó đã biết rằng sóng liên tục của hệ thống truyền phát hồ quang không chỉ truyền được mã Morse bằng phương thức vô tuyến mà cả chính giọng nói con người nữa. Họ chỉ không biết phải làm điều đó như thế nào. Ở những nơi khác, ý tưởng tương tự đã được đưa ra và các thử nghiệm đã được thực hiện, nhưng không nơi nào thành công cả.

Một ngày năm 1906, Schou, kỹ sư trưởng của phòng thí nghiệm đem đến một khối pha lê galenite nhỏ để sử dụng làm bộ dò tín hiệu. Khi nối một sợi dây đồng nhỏ vào, nó sẽ hoạt động giống như một tiếp giáp kim loại-bán dẫn, nhưng thường không ổn định, tạo thành một diode Schottky. Cách bố trí này đôi lúc còn được gọi là bộ dò râu mèo. Khi kết nối thành chuỗi với bộ rung ngắt (tikker) trong hệ thống Poulsen, họ nhận thấy rằng các chấm và gạch trong truyền dẫn sẽ tạo thành âm thanh, trong khi nếu không có cục tinh thể, sẽ chỉ có các nhiễu ù trong chuỗi tín hiệu chấm và gạch. Vì không có thành công nên thí nghiệm đã bị dẹp sang một bên. Tuy nhiên, Jensen bị hấp dẫn bởi tiềm năng truyền giọng nói của con người, nên một buổi tối, ông đã quay lại phòng thí nghiệm với hai người bạn Axel và Olaf Vosbein-Jensen. Với kinh nghiệm từ trước, Jensen hiểu rằng rằng sự kết hợp giữa bộ rung ngắt và pha lê là rất cần thiết, vì khi không có bộ rung ngắt, kết nối hoàn toàn im lặng.

Tối hôm đó, Jensen nhờ Axel ngồi trong một nhà kho, sử dụng micro trong khi ông ngồi cách đó khoảng 100 mét với một máy thu và tai nghe. Ông đã yêu cầu Axel đếm từ 1 đến 10 và tiếp tục lặp lại, nhưng tất cả những gì thu được từ tín hiệu vô tuyến chỉ là âm thanh mà ông và Kỹ sư trưởng Schou phát hiện ra trong các thí nghiệm trước đó. Sau một thời gian dài vô ích, họ đã bỏ cuộc, bất chợt Jensen đặt tay lên bộ rung ngắt và khiến nó tạm ngừng hoạt động. Đột nhiên, trong tai nghe, ông nghe thấy giọng nói của Axel: “…Tám, chín mười, anh có nghe thấy tôi không?” Lý do rất cơ bản, thế nhưng nó chưa từng được phát hiện ra trong các thí nghiệm trước đó của họ. Bộ rung ngắt và cục pha lê đã trung hòa với nhau, làm mất tác dụng, vì thế phải gỡ bỏ bộ rung ngắt đi. Sáng hôm sau Jensen đi vào thị trấn và báo cho Valdemar Poulsen về phát hiện lớn của mình. Rất nhanh chóng, tin này đã được lan truyền ra ngoài. Nhờ may mắn thuần túy, Jensen đã góp phần khám phá công nghệ cốt lõi và trở thành một trong những người đầu tiên trên thế giới nghe thấy giọng nói của con người được truyền qua kết nối vô tuyến.

(Hết phần 2)

Bạn có thể xem thêm phần khác tại đây

Lịch sử về sự ra đời của loa (Phần 1)

Lịch sử về sự ra đời của loa (Phần 3)

Lịch sử về sự ra đời của loa (Phần 4)

Lịch sử về sự ra đời của loa (Phần 5)

Lịch sử về sự ra đời của loa (Phần 6)

Lịch sử về sự ra đời của loa (Phần 7)

Lịch sử về sự ra đời của loa (Phần 8)

Lịch sử về sự ra đời của loa (Phần 9)
Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây

Những cặp loa có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử 1

Nguyễn Hào