Loa bookshelf ProAc Studio 100

Là cặp loa với tuổi đời hơn 20 năm, Studio 100 có thể được xem như là biểu tượng của ProAc trong lĩnh vực âm thanh chuyên nghiệp và là niềm tự hào của họ suốt một thời gian dài.

Response là một trong những dòng loa nổi tiếng nhất của thương hiệu loa Anh ProAc, với những đại diện nổi tiếng như Response 2, Response D2 và giờ là Response D2R. Chất âm mà các thế hệ loa bookshelf này thể hiện thường được mô tả là “giàu nhạc tính một cách vừa phải”. Tuy không thể hiện bất cứ sự đột phá nào về mặt công nghệ như nhiều mẫu loa audiophile khác, chúng khiến âm nhạc trở nên cực kỳ tự nhiên một cách thần kỳ. “Phép màu” mà ProAc tạo ra có mức giá trong khoảng 3000 đô la. Vì vậy, khi cặp loa Studio 100 xuất hiện cách đây 30 năm (1991), nhiều người đã tự hỏi ProAc có thể làm được điều tương tự với số tiền chỉ khoảng 1400 đô la.

ProAc Studio 100 truoc

Thiết kế

Cho dù Studio 100 đã bị thay thế bằng cặp loa sàn đứng SM100 vào năm 2013, đây vẫn là một cặp loa được săn đón bởi những người yêu thích chất âm của ProAc. Có thể thấy Studio 100 là cặp loa huyền thoại đúng nghĩa. Là phiên bản nâng cấp của Studio 1 Mk.II, Studio 100 sở hữu thiết kế hai đường tiếng rất điển hình. Với ngoại hình giống với cặp loa cùng thời Response 2, Studio 100 có driver tweeter lệch hẳn về một bên, đánh dấu rõ ràng đâu là loa bên trái và đâu là loa bên phải. Tuy nhiên, sự khác nhau giữa Studio 100 và Response 2 thể hiện rõ qua linh kiện cũng như thiết kế cổng thoát hơi. Mẫu loa của dòng Studio sở hữu driver midwoofer màng nón giấy 16.5cm cùng driver tweeter màng lụa mềm 2.5cm. Các driver này đều là phiên bản rẻ tiền hơn của những driver ScanSpeak dùng cho Response 2. Bên cạnh đó, Response 2 sử dụng ống thoát hơi dạng uốn khúc giống như ống hút để chia đều khoảng kín và khoảng thoát hơi, từ đó tăng độ kháng gió khi mức âm lượng tăng lên. Studio 100 lại khác ở chỗ sử dụng ống thoát hơi thẳng truyền thống, với đường kính khoảng 5cm và hướng ra phía trước. Do đó người nghe có thể đặt loa sát tường mà không sợ bị dội âm lại, ảnh hưởng đến chất lượng.

Một trong những yếu tố mà ProAc chú trọng nhất khi thiết kế Studio 100 chính là thùng loa. Nhờ vào những loại vật liệu giảm chấn tiên tiến cùng các lớp vách thùng loa mang độ dày mỏng khác nhau, ProAc đã tạo ra được một thùng loa khá “trơ” với các tác động của rung chấn. Thiết kế mạch phân tần cũng được chia ra ở bên trong, cho phép đấu dây bi-amp hoặc bi-wire thông qua bộ cọc loa Michell mạ rhodium ở đằng sau.

ProAc Studio 100

Xét về ngoại hình, Studio 100 hoàn toàn giống với Response 2, nghĩa là mang phong cách rất tối giản, với thùng loa vuông vức, không nét nào quá đặc biệt. Loa được hoàn thiện với màu veneer gỗ khá đẹp, kích thước 406mm x 203mm x 254mm, nặng 11kg mỗi chiếc. Điều đó cho thấy thùng loa khá to và nặng so với loa bookshelf thông thường. Do đó ProAc khuyến khích người nghe sử dụng các chân kê loa với cột thép nặng để đỡ cho Studio 100.

ProAc Studio được thiết kế với độ nhạy tương đối cao (88 dB) cùng trở kháng danh định 8 Ohm. Cặp loa này cũng sở hữu công suất chịu từ 30 đến 150 watt mỗi kênh. Ở thời điểm mới ra mắt, đây đã là một mức công suất chịu khá phổ biến, do đó cặp loa này có thể phối ghép được với cả ampli đèn cũng như ampli bán dẫn, thậm chí cả AV Receiver từ những thương hiệu phổ biến nhất trên thị trường hiện nay.

ProAc Studio 100 dep

Trải nghiệm

ProAc Studio 100 không phải là một cặp loa quá phổ biến, thế nhưng nó xứng đáng xuất hiện trong danh sách những cặp loa studio monitor điển hình nhất, và trên thực tế trong suốt vòng đời hơn 20 năm, mẫu loa này có ảnh hưởng không nhỏ đến thiết kế loa studio monitor sau này.

Khi phối ghép với một ampli mang tính trung tính như Hegel H90, Studio 100 thể hiện một âm hình đầy đặn cùng chất âm rất mượt, nhấn mạnh vào các dải trầm sâu và dải cao rất thoáng. Nếu so sánh, có thể thấy cặp loa này sở hữu chất âm giống với những cặp loa hi-fi chất lượng cao, với độ chi tiết lớn và tương đối phẳng. “Phẳng” ở đây không phải là thiếu chính xác hay bị lên màu âm do thùng loa. Ngược lại, đây là một mẫu loa người nghe có thể dễ dàng trải nghiệm cả ngày dài với một chất âm rất dễ nghe, dễ cảm.

Khi so sánh Studio 100 với một cặp loa huyền thoại khác Yamaha NS-10M, chúng giống như ở hai thái cực đối lập hoàn toàn. Yamaha NS-10M tập trung rất nhiều vào trung âm, vì thế các dải cao có thể cực kỳ chói gắt, trong khi loa của ProAc thường nhấn mạnh vào trầm và cao, đồng thời cố gắng giữ đáp tuyến tần số mượt nhất có thể. Mỗi cặp loa sẽ thể hiện một tính chất khác nhau và trong quá trình mix nhạc, việc thay đổi luân phiên sẽ rất hữu ích. Sử dụng Studio 100 với mức âm lượng vừa đủ sẻ giúp tái hiện lại âm hình một cách hoàn chỉnh. Khi sử dụng shelf AQ ở mức rất cao (khoảng 20kHz đối với vocal hoặc trống) với mức âm lượng thấp, nó sẽ tạo nên một chất âm rất hấp dẫn mà NS-10M chưa bao giờ đem lại được.

ProAc Studio 100 ca

Cũng tương tự như vậy, driver woofer cực kỳ nhạy bén đối với các dải trầm rất sâu ngay cả ở mức âm lượng thấp. Với Studio 100, các kỹ sư âm thanh có thể đưa ra quyết định về khoảng tần số mở rộng mà họ thường bỏ qua trong quá trình master bản thu. Khi tăng âm lượng lên, người nghe sẽ phải bất ngờ vì độ sâu âm trầm mà một thùng loa nhỏ cùng một driver 16.5cm có thể đạt được. Trên thực tế, con số đáp tuyến tần số 35Hz – 20kHz là một con số cực kỳ ấn tượng, thậm chí ngay cả nhiều cặp loa sàn đứng hiện đại với kích thước lớn hơn cũng chưa chắc đã đạt được. Một phần của độ sâu ấn tượng này được lý giải khi ta tìm hiểu về driver midwoofer của loa, vốn có khoảng hành trình rất dài so với một driver woofer cùng kích thước.

Kết luận

Sẽ không sai khi nói rằng Studio 100 chính là Response 2 phiên bản dễ tiếp cận hơn khi giá thành chỉ bằng khoảng một nửa. Hiển nhiên, đây không phải là một cặp loa hay nhất trong tầm giá này khi nó vẫn phải cạnh tranh với những đối thủ đáng gờm như Epos ES 14, Dunlavy SC-1, hay NHT SuperZero. Tuy nhiên, những ai yêu thích loa Anh chắc chắn sẽ đặt niềm tin vào ProAc cũng như những cặp loa chất lượng của họ, với Studio 100 nằm trong số đó.

Nguyễn Hào

Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây

DALI – Lịch sử thăng trầm qua bốn thập kỷ