Categories: Uncategorized

Một kỷ nguyên của âm nhạc điện tử (phần 2)

Trong kỳ này, chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp về sự phát triển của một số loại nhạc cụ điện tử kể từ sau chiếc guitar điện của Rickenbacker.

Leo Fender bắt đầu sự nghiệp từ việc lắp ráp hệ thống âm thanh công cộng, sửa chữa radio, ampli cũng như bảo dưỡng cho những chiếc guitar điện đời đầu tại cửa hàng Fender Radio Service ở Fullerton, California. Đối với ngành điện tử, năm 1928 là một dấu mốc quan trọn. Đây là năm bóng đèn điện xoay chiều đầu tiên ra đời. Trước đó, bóng đèn điện cần phải có ắc quy hay mạch cấp nguồn rất lớn để cung cấp năng lượng. Vào khoảng những năm 1910, Peter Laurice Jensen đã tạo ra những mẫu loa đầu tiên có độ nhay cao, vì thế Fender cũng bắt đầu lắp ráp những mẫu ampli công cộng đầu tiên với công suất chỉ khoảng 15 watt.

Sau một thời gian sửa ampli guitar, Fender bắt đầu tự lắp ráp ampli riêng và nhận đơn đặt hàng từ các bên khác. Trong thời gian nổ ra Thế chiến thứ hai, ông hợp tác làm ăn với Doc Kaufman, sản xuất guitar và ampli dưới thương hiệu K&F. Kaufman rút khỏi lĩnh vực này vào năm 1945, khi ấy chỉ còn lại mình Fender tiếp tục. Ông bắt đầu sản xuất mẫu Pro Amp sử dụng một driver loa 38cm và Dual Professional với hai driver loa 25cm. Cả hai mẫu ampli này đều góp công rất lớn trong việc làm nên tên tuổi của thương hiệu Fender. Sang đến năm 1948, Fender giới thiệu cây đàn guitar điện Broadcaster và đổi tiên nó thành Telecaster 2 năm sau đó. Còn mẫu đàn huyện thoại Stratocaster xuất hiện tương đối muộn, vào năm 1954.

Không chỉ guitar, những người chơi đàn bass cũng gặp khó khăn trong việc tạo ra âm lượng lớn, đủ để khán giả nghe được khi phải chơi ở những nhóm nhạc có quy mô to. Tuy nhiên, thành công của guitar điện và các hệ thống âm thanh công cộng đã mở ra một con đường mới cho họ. Lloyd Loar, kỹ sư của thương hiệu Gibson đã thiết kế pickup điện cho đàn double bass từ khoảng năm 1924. Điều không may là khi ấy công nghệ khuếch đại âm thanh vẫn còn rất sơ khai, khó có thể tạo ra âm bass tốt được. Nghệ sĩ Paul H. Tutmarc (1896–1972) cũng dựng nên những nguyên mẫu nhỏ vào đầu thập niên 30. Chiếc đầu tiên có kích thước chỉ bằng cello nhưng lại quá nặng nề. Tutmarc đã chỉnh sửa lại thiết kế, tạo ra một cây đàn bass dài khoảng 1m, thân đặc sơn màu gỗ walnut đen, với hình dáng giống như đàn guitar nhưng lại sử dụng dây piano cùng một pickup khá thô sơ. Cây đàn bass này được giới thiệu với cái tên Model 736 Bass Fiddle. Trong sách của Bacon and Moorhouse, cây đàn được mô tả như sau: “đàn sử dụng một pickup đơn, có và núm điều chỉnh trên miếng bảo vệ mặt đàn màu ngọc trai. Cổ đàn có 16 phím và dây cắm điện chạy ra từ một giắc cắm ở trên thân đàn.”

Trong suốt thập niên 30, một số kỹ sư cũng đã nghiên cứu để tạo ra đàn bass điện. Thế rồi con trai của Tutmarc, Paul “Bud” Tutmarc Jr. (1924–2008) phát minh ra đàn guitar bass vào khoảng năm 1940, đặt tên nó là Serenader. Cây đàn này về sau được công ty L. D. Heater Co., ở Portland, Oregon phân phối chính hãng. Tất cả những sự kiện này diễn ra khoảng 10 năm trước Leo Fender thiết kế nên cây guitar bass huyện thoại Precision (mẫu đầu tiên chính thức được đưa ra thị trường vào tháng 10 năm 1951). Hầu hết mọi người đều đồng ý rằng Motown, Stax và khoảng hơn 60 thương hiệu khác về sau tập trung vào sản xuất đàn bass chính là vì cây đàn này.

Nếu như ampli Fender là một phần định hình nên kỷ nguyên rock n’ roll, ampli Võ lại gắn liền với âm nhạc của Anh Quốc thập niên 60. Các ban nhạc nổi tiếng như The Beatles, Rolling Stones, Shadows, Dave Clark Five hay Yardbirds đều sử dụng ampli do Vox sản xuất. Tiền thân của Vox vốn là Jennings Musical Instruments – lúc mới bắt đầu chỉ là một cửa hàng nhạc cụ tại Dartford, do Tom Jennings và Dick Denney sáng lập vào những năm 50. Sở dĩ Tom Jennings quyết định sản xuất ampli là bởi sau chiến tranh thế giới thứ hai, lệnh cấm vận thương mại đã khiến việc tìm mua ampli Fender và Gibson của Mỹ trở nên bất khả thi. Vox nhanh chóng nắm lấy cơ hội này và trở thành một đối thủ lớn ở phía bên kia đại dương. Thành công lớn nhất của Vox chính là biến ampli của mình trở thành một thiết bị không thể thiếu, gắn liền với hình ảnh của Rolling Stones hay The Beatles.

Cũng tương tự như vậy, Marshall Amplification phát triển thành một thương hiệu lớn chỉ với khởi đầu từ một cửa hàng nhạc cụ ở London năm 1962. Những cuộc trao đổi giữa các nghệ sĩ về chất lượng mong muốn đối với một chiếc ampli guitar đã khiến Jim Marshall dấn thân vào ngành sản xuất. Nếu như Vox phục vụ cho dòng nhạc beat boom thì Marshall lại trở thành biểu tượng của các ban nhạc blue-rock ồn ào, mạnh mẽ hơn rất nhiều của thời kỳ kế tiếp.

(Hết kỳ 2)

Bạn có thể xem thêm phần khác tại đây:

Một kỷ nguyên của âm nhạc điện tử (phần 1)

Một kỷ nguyên của âm nhạc điện tử (phần 3)

Một kỷ nguyên của âm nhạc điện tử (phần 4)

Một kỷ nguyên của âm nhạc điện tử (phần 5)

Nguyễn Hào

Lan Nguyễn

Recent Posts

TEAC NR-7CD – Thiết bị tất cả-trong-một ở tầm cao mới

Nếu cần xây dựng một hệ thống âm thanh truyền thống nhưng vẫn đáp ứng…

11 hours ago

Marantz SR8012 – AV receiver đầu bảng của Marantz

Cho đến nay, đây vẫn là một trong những receiver cao cấp, mạnh mẽ, đáng…

11 hours ago

AudioQuest Silver Cloud – Dây nguồn đầu bảng cho phân khúc tầm trung của AudioQuest

Vẫn sử dụng những công nghệ quen thuộc làm nên dòng dây nguồn Wind, thế…

12 hours ago

Elipson Prestige Facet 8B – Đáng giá với phân khúc tầm trung

Cặp loa bookshelf Prestige Facet 8B sẽ đưa người nghe đi hết từ bất ngờ…

12 hours ago

Line Preamp Audio Research Reference 10– Vượt qua những giá trị hàng đầu

Với những giá trị từ cổ điển cho đến hiện đại, line preamp Audio Research…

13 hours ago

Sonus Faber Chameleon T – “Tắc kè đổi màu” của Sonus Faber

Kết hợp chất âm truyền thống, kỹ thuật chế tác đổi màu và khả năng…

2 days ago