Một kỷ nguyên của âm nhạc điện tử (phần 5)

Khi nhạc cụ điện tử mới ra đời, mục tiêu đầu tiên của chúng chỉ là tạo ra âm thanh, thế nhưng càng về sau, người ta càng hướng đến mục tiêu cao hơn, đó là âm thanh giống như các nhạc cụ acoustic khác.

Cũng như Telharmonium, các nhạc cụ sử dụng đèn điện tử chân không thời đầu có khả năng chơi nhiều nốt cùng lúc thường tạo ra mỗi nốt hoặc dao động riêng biệt. Mỗi dao động này lại đòi hỏi cần có một bóng đèn riêng. Trong số các nhạc cụ này có thể kể đến Pianorad năm 1926 của Hugo Gernsback (1884–1967), Orgue des Ondes – hay còn gọi là Wave Organ năm 1929 của Armand Givelet (1889–1963) và Eduard Eloi Coupleaux. Những cỗ máy này có điểm chung là sử dụng rất nhiều bóng đèn (wave organ có tổng cộng 700 bóng chân không) và dễ bị lệch nốt. Hai năm trước khi tạo ra Orgue des Ondes, Givelet và Coupleaux còn phát minh ra chiếc synthesizer đơn nốt có tên là Clavier à Lampes. Thế rồi, vào năm 1928, sau khi đã quá chán nản với những chiếc micro chất lượng thấp dùng để thu âm, Armand Givelet đã phát triển một phương pháp thu âm mới mà ông goi là “thu âm câm” (silent recording). Ngày nay, ta gọi đây là kỹ thuật “nạp trực tiếp” (direct injection) – kết nối nhạc cụ điện tử trực tiếp vào bộ phát hoặc bộ thu mà không cần chuyển đổi tín hiệu sang năng lượng cơ học.

the Pianorad

Dựa trên nguyên tắc phách heterodyne giống như cây đàn Theremin, cây đàn Ondes Martenot (1928) của Maurice Martenot (1898–1980) trở thành cây đàn keyboard điện đầu tiên được sản xuất hàng loạt. Cũng giống như đàn Theremin, người chơi Ondes Martenot sử dụng tay trái để ngắt / nhấn, tay phải để chơi nốt, khá giống với synthesizer keyboard hiện đại. Một số mẫy synthesizer điện tử đầu tiên cho phép tùy chỉnh cá nhân ở mức độ khá sâu như thể hiện cảm xúc thông qua tốc độ hay chỉnh độ nhạy của phím.

Trong thời kỳ Đại Suy Thoái giai đoạn thập niên 30, Laurens Hammond đã có những bước phát triển đầu tiên trong việc tạo ra tiếng đàn đại phong cầm của nhà thờ từ một nhạc cụ có thể “nhét vừa ghế sau của xe taxi”. Ông đã sử dụng vốn kiến thức cực kỳ sâu rộng về lĩnh vực động cơ điện để tạo ra bộ phân analog điện từ cho bánh xe Savart. Đỉnh điểm của nghiên cứu này là việc ông đã tìm ra giải pháp để tạo nên những hợp âm phức tạp (với 253 triệu biến thể khác nhau) chỉ từ 91 bánh xe Savart nhỏ với kích thước bằng đồng xu bạc 1 đô la. Năm 1934, ông được cấp bằng sáng chế cho nhạc cụ này và đặt tên chính thức cho nó là Hammond Organ.

Harold Bode (1909 – 1987), một kỹ sư người Đức cũng tham gia sáng chế một số nhạc cụ điện tử, trong số đó có cả cây đàn Warbo Formant Organ 1937 hay cây đàn nhạy với áp lực Melodium vào năm 1938. Cây đàn Ondioline năm 1941 của George Jenny sử dụng một bàn phím nhạy cảm với các chuyển động ngang / dọc để từ đó điều chỉnh biên độ cũng như thực hiện vibrato. Cao độ các nốt được kiểm soát bằng thang điện trở, giống như những chiếc synthesizer của hàng chục năm về sau. Đến năm 1947, Bode phát minh ra một cây đàn mới, là phiên bản chỉnh sửa của Melodium, sử dụng bàn phím kép với lọc tracking và bộ tạo đường bao (envelope generator). Nhạc cụ mới này có tên là Melochord.

Một năm sau đó, nhạc sĩ người Canada Hugh LeCaine tạo ra Electronic Sackbut để mô phỏng độ nhạy điều khiển tự phát của các nhạc cụ acoustic. Electronic Sackbut là một nhạc cụ đơn âm, điều khiển bằng keyboard và hoạt động theo thời gian thực. Nó có đầy đủ cơ chế như chuyển vị phím, điều chỉnh âm lượng và độ mạnh của nốt thông qua bàn đạp cũng như áp lực lên phím. Chuyển động ngang trên phím có thể thay đổi cao độ, trong khi bàn đạp chân khác dùng để kiểm soát luyến và ngắt (portamento). Bàn điều khiển tay trái sẽ tạo nên các hòa trộn âm sắc phức tạp. Trong khoảng thời gian thập niên 50, LeCaine tiếp tục thiết kế các nhạc cụ dành riêng cho nhạc sĩ với các chức năng tương tự như Electronic Sackbut.

Electronic Sackbut

Trong hai thập niên 60 và 70, một loạt các hãng sản xuất synthesis nổi tiếng xuất hiện như Moog, ARP, Oberheim, Sequential Circuits, EMS, Roland hay Yamaha. Ban đầu, các cỗ máy này chỉ có thể tạo được đơn nốt, dần dà phát triển lên song nốt và cuối cùng là đa nốt. Giao diện điều khiển của nhạc sĩ ít được quan tâm, chủ yếu chỉ tập trung vào phần điều khiển kỹ thuật hiệu ứng ở tay trái. Chỉ một số thiết bị mới cho phép điều chỉnh áp lực, tốc độ và kiểm phát phím ngang. Sự khác biệt giữa các thương hiệu chủ yếu nằm ở số lượng và chất âm của bộ tạo dao động và lọc, routing và số lượng âm thanh phát ra cùng lúc. Với ưu thế kích thước nhỏ, dễ sử dụng và chất âm tốt, cỗ máy MiniMoog của năm 1970 đã rất thành công. Cho đến nay, nó vẫn tồn tại, được mô phỏng trên phần mềm và có ảnh hưởng đến các thiết kế synthesizer sau này.

(Hết phần 5)

Bạn có thể xem thêm phần khác tại đây 

Một kỷ nguyên của âm nhạc điện tử (phần 1)

Một kỷ nguyên của âm nhạc điện tử (phần 2)

Một kỷ nguyên của âm nhạc điện tử (phần 3)

Một kỷ nguyên của âm nhạc điện tử (phần 4)

Nguyễn Hào

Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây

Hegel Music Systems – Một thương hiệu đáng chú ý từ Na Uy