Muôn vẻ những cách đọc đĩa than (phần 4)

Trong kỳ này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về một chủ đề khá lạ ít ai biết đến, đó là kích thước của rãnh đĩa than qua các thời kỳ.

Nếu giải thích một cách thật ngắn gọn, quá trình chơi đĩa than chỉ là quá trình “đọc” tín hiệu từ rãnh đĩa. Đây là một điểm khá thú vị vì qua các thời kỳ, sự thay đổi thể hiện ra rất rõ nét. Những máy jukebox chơi nhạc tự động hay các đầu đĩa than ở đài phát thanh của những năm 40, 50 thế kỷ trước được thiết kế để đọc đĩa 78 vòng/phút. Chúng có tay cơ và cartridge khổng lồ, với lực tì đầu kim có thể lên đến hàng ounce chứ không phải chỉ gram. Cần nhớ rằng một ounce là 28.3495 gram, tức là khoảng 28.5 gram. Sách hướng dẫn của RCA 70-D – một trong những mâm đĩa than đài phát thanh nổi tiếng nhất xuất hiện vào năm 1948 có ghi rõ lực tì đầu kim là 28 gram, dao động thêm bớt 0.5 gram nữa, như vậy là gần với một ounce. Để so sánh rõ hơn, đồng 1 xu của Mỹ nặng 2.5 tới 3.11 gram, đồng 5 xu của mỹ là khoảng 5 gram. Thời trước, không ít những trường hợp người ta đặt vài đồng 5 xu lên headshell của tay cơ để cải thiện lực tì đầu kim.

RC 70 D cu

Mặc dù những cỗ máy như RCA 70-D có giá trị sưu tập khá lớn, để sử dụng chúng cho các đĩa stereo là điều không thể vì nhiễu rumble (loại nhiễu dải trầm do rung, lắc) sẽ rất nhiều. Chưa kể kích thước của chúng khá lớn, có thể bằng một chiếc máy giặt cỡ nhỏ và nặng tới hơn 70kg.

Những thông tin về khối lượng ấy có thể rất khủng khiếp đối với những đĩa stereo rãnh nhỏ, nhưng đừng quên rằng đĩa 78 vòng/phút có rãnh đĩa rộng hơn nhiều, do đó lực tì đầu kim sẽ được phân bố trên một diện tích bề mặt rộng hơn so với các đĩa stereo 45 vòng/phút. Ngay cả ở thời nay, với một tay cơ và cartridge được tối ưu hóa để chơi đĩa 78 vòng/phút, lực tì tối ưu cũng chỉ ở mức 4 – 5 gram.

Nếu như chỉ cần tìm hiểu lịch sử một cách đại khái và dễ nhớ, đừng cố gắng tìm hiểu lịch sử của đĩa 78 vòng/phút. Kể từ đầu thế kỷ 20 cho đến những năm 1920, tốc độ đĩa than không được chuẩn hóa. Mỗi thương hiệu sẽ có tốc độ của riêng họ, dao động trong khoảng từ 70 đến 100 vòng/phút. Rãnh đĩa cũng không được chuẩn hóa nốt. Trước năm 1940, hầu hết các hãng đĩa lớn sẽ làm rãnh đĩa phù hợp với đầu kim tròn hoặc đầu kim hình nón, đường kính khoảng 3mm. Những hãng đia ít nổi hơn hoặc xuất hiện sớm hơn không có rãnh đĩa giống như vậy. Sau năm 1940, hầu hết đĩa 78 vòng/phút đều chơi được với kim có đường kính đầu kim 2.7mm.

Và đó vẫn chưa phải là tất cả. Năm 1948, hãng Columbia giới thiệu đĩa LP tốc độ 33.3 vòng/phút. Bản thân những đĩa này mỏng hơn đĩa 78, được làm từ vinyl chứ không phải shellac và cao lanh (đất sét trắng), rãnh đĩa cũng mượt hơn, nhỏ hơn nhiều. Nhờ vậy, đĩa LP có thể chơi với thời gian dài hơn và ít nhiễu ồn hơn đĩa 78. Một nhóm kỹ sư của CBS Labs ở Stamford, Connecticut đã phát triển nên đĩa LP. Dẫn đầu nhóm này là tiến sĩ Peter Goldmark, một người có vốn kiến thức uyên thâm từng dẫn đầu cho sự phát triển của hệ thống đĩa xoay cho TV màu, và sau này góp phần vào sự ra đời của công nghệ băng video cũng như hệ thống quét ảnh cho tàu đổ bộ mặt trăng.

đia LP

Sự xuất hiện của đĩa LP chưa phải là điểm cuối cùng. Stereo xuất hiện làm mọi thứ ngày càng phức tạp hơn. Mặc dù những bản thu stereo đầu tiên đã có mặt từ đầu thập niên 30 nhờ các nghiên cứu của Alan Blumlein và Keller/Fletcher, đĩa stereo chỉ thực sự được biết đến khi đĩa LP đã phổ biến rộng rãi trên thị trường. Câu hỏi đặt ra: Làm thế nào để hai kênh riêng biệt có thể thu trên cùng một đĩa và sau đó dùng để phát lại. Một số nhà nghiên cứu lựa chọn phương pháp dùng hai rãnh đĩa riêng biệt. Nổi tiếng nhất là Emory Cook với các bản thu binaural, trong đó có những đĩa demo sử dụng tiếng đoàn tàu sau này rất nổi tiếng. Phương pháp hai rãnh của Cook yêu cầu cần có hai cartridge riêng biệt. Thế là một hệ thống tay cơ kép lắp hai cartridge đã được phát triển để lắp được cho các mâm đĩa than có mặt trên thị trường khi ấy.

Phương pháp tiếp theo sau này cũng được thử nghiệm và cuối cùng được áp dụng rộng rãi, đó là tạo ra các đĩa 45 với rãnh đơn, cắt hai kênh âm thanh chỉ trong một rãnh đĩa. Phương pháp này do Bell Labs phát triển từ những năm 30 và sau đó được Westrex hồi sinh lại khoảng 20 năm sau đó. Đĩa stereo ra đời đã mở ra một cuộc chiến về định dạng rất thú vị, và phần thắng đã thuộc về những kẻ sinh sau tiến bộ hơn về mặt công nghệ. Đĩa đơn kênh dần lui vào bóng tối và chỉ còn là một dấu tích của lịch sử.

(Hết kỳ 4)

Bạn có thể xem thêm phần khác tại đây

Muôn vẻ những cách đọc đĩa than (phần 1)

Muôn vẻ những cách đọc đĩa than (phần 2)

Muôn vẻ những cách đọc đĩa than (phần 3)

Muôn vẻ những cách đọc đĩa than (phần 5)

Muôn vẻ những cách đọc đĩa than (phần 6)

Muôn vẻ những cách đọc đĩa than (phần 7)

Muôn vẻ những cách đọc đĩa than (phần 8)

Muôn vẻ những cách đọc đĩa than (phần 9)

Muôn vẻ những cách đọc đĩa than (phần 10)

Các bạn có thể tham khảo các sản phẩm khác tại đây

Những bộ cơ mâm đĩa than thường gặp hiện nay

Nguyễn Hào