Power ampli Audio Research VT80SE

Thay đổi giữa power ampli Audio Research VT80SE với phiên bản tiền nhiệm VT80 không nhiều, thế nhưng bằng đó cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến chất âm hệ thống.

Audio Research – thương hiệu âm thanh nổi tiếng với những thiết bị audio cao cấp, đặc biệt là các thiết bị sử dụng đèn điện tử, thời gian gần đây đã làm mới lại một số sản phẩm của họ. Vì chúng được coi là nền tảng của những thiết bị cao cấp nhất do Audio Research sản xuất nên những thiết bị này được gộp chung vào một dòng và được đặt tên là dòng Foundation. Dòng sản phẩm này bao gồm preamp linestage LS28, bộ chuyển đổi DAC 9, phono preamp PH9 và power ampli VT80SE. Ba sản phẩm đầu tiên có giá là 7500 đô la mỗi chiếc, trong khi VT80SE có giá là 8900 đô la. Như vậy, sau vài năm ngắn ngủi, Audio Research đã nâng cấp VT80 để có thể đáp ứng thị hiếu của khách hàng, đồng thời cũng không để bản thân bị sót lại trong cuộc đua công suất vốn đầy tính cạnh tranh trong thế giới ampli đèn.

Audio Research VT80SE chat

Thiết kế ampli Audio Research VT80SE

Về cơ bản, sự khác biệt giữa VT80 và VT80SE là không nhiều, nếu như không muốn nói rằng chúng gần như là một, từ phong cách thiết kế bên ngoài cho đến phần lớn chi tiết mạch. Khác biệt lớn nhất giữa chúng nằm ở bóng công suất, khi phiên bản SE sử dụng bóng KT-150 vốn có công suất đầu ra cao hơn. Audio Research VT80SE có khối lượng lên đến gần 21kg mỗi chiếc và mang kích thước 483 x 262 x 468mm. Nhìn chung, dù không đồ sộ như nhiều power-amp khác của Audio Research, đây vẫn là một cỗ máy khá lớn, cần có kệ tương đối rộng để có thể đặt vừa. Phần mặt trước làm bằng nhôm, với hai tay cầm khá lớn ở hai bên giúp việc dịch chuyển dễ dàng hơn. Chính giữa mặt trước là màn hình đen được ốp kính ở ngoài. Chiếc ampli được hoàn thiện với hai lựa chọn màu bạc hoặc đen. Phiên bản quốc tế đắt hơn một chút so với bản Bắc Mỹ vì có thêm lồng che bóng đèn và biến áp, với giá tăng thêm 500 đô la. Thiết kế máy khá cổ điển, với cụm bóng đèn và biến áp nguồn cùng biến áp xuất âm để lộ ở trên thân máy chính.

Thiết kế mạch của ampli Audio Research VT80SE áp dụng phương pháp hybrid, sử dụng cả JFET và bóng đèn để khuếch đại tín hiệu đầu vào. Với 4 bóng KT150 mặc định (2 bóng mỗi kênh), ampli có công suất 75 watt/kênh. VT80SE được trang bị mạch auto bias cho phép người dùng có thể thay đổi bóng đèn, từ KT150 chuyển sang KT120, KT8, KT90 hay 6550. Dù vậy, Audio Research luôn khuyến khích người dùng sử dụng các bộ bóng đã được hãng chạy rà và ghép tại nhà máy của họ ở Minnesota.

Audio Research VT80SE hay

Các bóng KT150 mà Audio Research cung cấp có tuổi thọ ước tính khá cao, lên đến khoảng 3000 giờ. Mỗi bóng đèn sẽ có một cầu chì riêng để bảo vệ. Như vậy, nếu như có một bóng hỏng thì cũng sẽ chỉ có một cầu chì bị nổ. Thiết kế này đảm bảo rằng bất cứ lỗi bóng đèn cũng sẽ không gây ra hậu quả nghiêm trọng cho cỗ máy. Các cầu chì này được bố trí ở dưới đáy bảng mạch, gần sát với khe cắm bóng đèn. Mặc dù chuyện bóng đèn hỏng là rất hiếm, thiết kế mạch bảo vệ này vẫn là yếu tố bắt buộc, không phải chỉ cho VT80SE mà còn cho tất cả sản phẩm của Audio Research.

Để lái các bóng công suất, hãng sử dụng 2 bóng Sovtek 6H30 dual triode (mỗi bóng một kênh). Ampli VT80SE thậm chí còn có đồng hồ báo số giờ ở phía sau máy để thông báo tuổi thọ của bóng đèn. Ở mặt sau này, ta cũng sẽ tìm thấy cả 2 loại cổng đầu vào XLR và RCA cùng switch gạt để lựa chọn một trong hai. Ngoài ra, ampli cũng có cọc loa riêng cho các loa 4 Ohm hoặc 8 Ohm. Vấn đề lớn nhất của cỗ máy này là tap 4 Ohm có đường tiếp địa riêng. Dù thử bất cứ cặp loa nào, với bất cứ đầu vào nào, người nghe vẫn có thể nghe được tiếng ù khá nhỏ. Tất nhiên nó sẽ không át bản nhạc, nhưng có thể đem đến cảm giác hơi khó chịu. Do đó, nếu như đang sở hữu một cặp loa 4 Ohm, người nghe cần cân nhắc kỹ trước khi quyết định đưa chiếc ampli này về.

Audio Research VT80SE

Các bóng đèn được đặt trong hộp riêng và có mút xốp bảo vệ bên ngoài để tránh vỡ, hỏng trong quá trình vận chuyển. Do đó, người dùng sẽ phải tự lắp bóng trước khi cho máy hoạt động. VT80SE có cổng nguồn IEC 20 Amp, do đó, người dùng nên chọn các dây nguồn 20A cao cấp cho audiophile nếu muốn phát huy hết sức mạnh của cỗ máy này.

Trải nghiệm

Để thử nghiệm, hệ thống phối ghép cùng ampli Audio Research sẽ gồm có cặp loa Sonus Faber Sonetto VIII, preamp LS28, đầu CD Métronome Le Player 3+, dây tín hiệu và dây loa của AudioQuest. Album được thử đầu tiên là album Legend: the Best of Bob Marley ra mắt năm 1984. Trong album này có các bản nhạc khá nổi tiếng như “I Shot the Sheriff”, “Jamming”, “Is This Love?”, “Buffalo Soldier”, and “Get Up, Stand Up”.

VT80SE đem đến cảm nhận và sự giao thoa, hài hoà giữa các nhạc cụ trong từng bản nhạc rõ nét đến mức nếu như không cảm thấy xúc động trước điều này thì chỉ có thể đó là do đây không phải gu nhạc của người nghe. Cụ thể hơn, từng tầng lớp âm thanh thể hiện qua bản “No Woman, No Cry” được tái hiện một cách có lớp lang, thứ tự rất rõ nét, có thể khiến người nghe như đang hoà mình trong không khí của buổi biểu diễn thực thụ. Trong khi đó, “Cry” lại khá nặng về cảm xúc. VT80SE thể hiện điều đó qua từng nốt đàn organ chậm rãi, tươi sáng cùng tiếng đám đông hoà nhịp hát cùng bản nhạc, khiến cho người nghe cũng như đang bị cuốn theo.

Audio Research VT80SE dep

Ở album The Stooges Raw Power phiên bản làm lại năm 1997, ta có thể cảm thấy bản mix cực nặng, cực gai góc từ bản thu gốc 1973 vẫn thể hiện rất rõ. Tuy nhiên, bản 1997 có ít nhiễu ồn hơn, chất âm cũng sạch hơn. Phiên bản làm lại này cũng thể hiện các nốt trầm tròn trịa và có sức nặng hơn. Những bản mạnh mẽ, dồn dập như “Search and Destroy”, “Penetration”, “Shake Appeal”, hay “Raw Power” dường như thể hiện sự cuồng nộ rất mãnh liệt, đậm chất nhạc proto-punk của thập niên 70.

Trong khi đó, tiếng đàn acoustic guitar mở đầu cho bản “Gimme Danger” đem đến cảm giác giận dữ, sợ hãi, không kém phần căng thẳng một cách cực kỳ chính xác. Cách thể hiện cao trào của nó cũng rất xuất sắc khi mà dù khá ồn ào, ta vẫn bắt được cảm xúc của người hát trong đó thông qua ca từ rõ ràng cùng cách thể hiện kỹ thuật khá ấn tượng.

Kết luận

Audio Research VT80SE là một cỗ máy khá ấn tượng. Chất âm của nó là một chất âm hiện đại, bỏ qua những định kiến về ampli đèn như tròn trịa, mềm mại, thiên ấm và nịnh tai. Đây là một cỗ máy mạnh mẽ, chính xác và không ngại phải thể hiện những bản nhạc khó chơi. Tất cả những gì mà ta cần là một phối ghép chất lượng cao đi cùng ampli này để thể hiện trọn vẹn sự tuyệt vời mà nó có thể mang lại.

Nguyễn Hào

WAF – Một chỉ số ẩn không bao giờ được nêu ra | TapChiHiFi TV 156