Tìm hiểu về méo tín hiệu (phần 3)

Tìm hiểu về méo tín hiệu (phần 3)

Friday 01/02/2019 9:00 am GMT +7

Xem thêm:

Tìm hiểu về những loại méo tín hiệu âm thanh hay gặp còn lại.

Trước khi tìm hiểu về hai loại méo tín hiệu trên, chúng ta sẽ nhắc lại về hai loại méo tín hiệu nói chung thường gặp ở các thiết bị audio:
Loại 1 – méo tuyến tính, thay đổi hàm lượng biên độ.
Loại 2 – méo phi tuyến tính, tăng hàm lượng tần số
Loại 1 còn được biết đến với cái tên đáp tuyến tần số, thường chứa đựng cả lỗi biên độ (thay đổi về âm lượng) và lỗi pha. Loại méo tín hiệu này có thể sửa được bằng cách xử lý lại tín hiệu âm thanh.
Loại 2 khá đa dạng, thường gặp nhất là méo hài âm (thêm tần số). Nếu gặp phải loại này, tín hiệu sẽ không thể sửa được.

Méo do điều biến tương hỗ (loại 2)

Điều biến tương hỗ (Intermodulation) là sự tương tác giữa hai hay nhiều tần số khác nhau. Sự tương tác này tạo ra tần số mới vốn là tổng và hiệu của những dải tần số có liên quan. Chẳng hạn, khi dải tần 100Hz và 1000Hz kết hợp với nhau sẽ sinh ra hai tần số phụ là 1100Hz và 900Hz. Điều biến tương hỗ bổ sung thêm các tần số không liên quan, có độ nhiễu cao gây khó chịu hơn nhiều so với méo hài và có thể nghe được ở mức âm lượng thấp hơn bất cứ dạng méo phi tuyến tính nào. Các bản nhạc được tạo thành từ nhiều tần số khác nhau làm cho méo do điều biến tương hỗ được quan tâm nhiều nhất. Trong các loại méo phi tuyến tính, méo do điều biến tương hỗ có lẽ là loại méo tín hiệu gây khó chịu nhất.

Meo hai tong

Méo độ động (loại 1)

Các loại méo tín hiệu liên quan đến biên độ khá đa dạng, không phải chỉ có mỗi méo tuyến tính. Trước khi tìm hiểu về loại méo mới, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về một khái niệm liên quan: độ động. Đó chính là biên độ từ mức tín hiệu nhỏ nhất cho đến mức tín hiệu lớn nhất. Sự tương phản giữa hai mức này rất quan trọng với âm nhạc. Những đỉnh âm, thông thường do các nhạc cụ gõ tạo ra, đem đến cho các buổi biểu diễn cảm giác về lực rất rõ rệt. Các đoạn nghỉ vốn khá mềm mại càng khiến cho ấn tượng về sự tương phản mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, kể từ thời cuộc chiến độ động (dynamic war) đến nay, rất nhiều bản thu vì mục đích tăng âm lượng nên đã nén lại các đỉnh và đáy của độ động, khiến dải trở nên hẹp hơn, đồng thời cũng bỏ đi rất nhiều các dải tức thời. Đối với sự biến dạng do nén tín hiệu gây ra, chúng ta chẳng thể làm gì để có thể sửa được.

Cong huong

Khi chơi các bản nhạc đã nén tín hiệu, người sử dụng sẽ nhận thấy rằng âm lượng tuy có to hơn nhưng sự sống động của các bản thu bị mất hết. Cũng tương tự như vậy, hiện tượng nén nhiệt ở driver do lỗi thiết kế hay ghép nối một ampli quá yếu cho một loa đòi hỏi công suất lớn cũng sẽ gây ra hiện tượng nén độ động. Không có đủ độ tương phản trên độ động, đồng thời các dải tức thời bị xén ngọn, âm nhạc sẽ trở nên cực kỳ nhàm chán, không còn hấp dẫn nữa.

Méo tín hiệu có chủ ý

Méo tín hiệu không phải lúc nào cũng có hại. Đôi lúc các nhạc sĩ cố ý cho thêm méo tín hiệu vào để thay đổi âm chất của nhạc cụ hoặc các kỹ sư âm thanh dùng để điều chỉnh lại bản thu. Vô số loại thiết bị xử lý tín hiệu cho cả analog cũng như digital có khả năng tạo ra hiệu ứng méo tiếng đúng như kỳ vọng của người sử dụng. Đứng về phía những người sản xuất âm nhạc, méo tín hiệu thật ra rất có lợi. Nhưng đối với quá trình tái tạo âm nhạc, méo tiếng đồng nghĩa với việc mục tiêu âm thanh trung thực xa vời thêm một chút.

Meo tuyen tinh

Tất cả các bước thu âm và chơi lại đều thêm méo tín hiệu vào. Vì vậy, thứ âm thanh cuối cùng mà người nghe cảm nhận được là thứ âm thanh dày đặc những méo tiếng. Nếu giữ tất cả những méo tín hiệu ở mức thấp nhất, tiếng nhạc sẽ tương đối gần với thực tế. Tuy nhiên, nhiều audiophile không thực sự hài lòng với việc giữ tất cả méo tín hiệu ở mức thấp nhất. Một số người cực kỳ ưu tiên cho việc thêm một lượng nhỏ vừa phải méo tín hiệu. Chỉ với một chút méo hài bậc cực thấp là đủ để tạo ra chất âm đầy đặn, có chiều sâu và rất dễ nghe. Sự hấp dẫn của hiệu ứng này đã lý giải vì sao những năm gần đây, đĩa than và ampli đèn lại được ưa chuộng trở lại. Cả hai đều thêm một lượng vừa phải các loại méo tín hiệu thích hợp (kết hợp cùng méo do điều biến tương hỗ, cộng hưởng và méo hài bậc thấp). Số lượng méo tín hiệu ấy không quá ít, không quá nhiều, chỉ đủ để thêm chút ấm áp và làm dịu đi các chi tiết thô cứng trong âm thanh của nhạc cụ và giọng nói của con người.
Nhìn chung, đối với những người yêu thích đĩa vinyl và ampli đèn, sự trung tính cùng chất âm “sạch”, mang tính chính xác cao của nhạc digital vốn không dành cho họ. Trên thực tế những cuộc tranh cãi giữa analog và digital đã có từ rất lâu, từ những năm 1980 và không phải chỉ giới hạn ở âm nhạc. Đỉnh điểm của cuộc tranh cãi nằm ở lĩnh vực nhiếp ảnh, khi người ta bàn về những ưu điểm của máy Kodak Ektachrom và Fujichrome. Hầu hết các nhiếp ảnh gia đều thích Fuji vì màu sắc phong phú, bão hòa, cực kỳ ấn tượng. Có thể nói khi ấy hiếm có máy nào có thể làm được như vậy. Tuy nhiên, không ít người vẫn lựa chọn Kodak Ektachrom vì độ chính xác, độ trung thực màu sắc và tính chân thực của nó. Cuối cùng, Fuji đã thắng và về sau Kodak giới thiệu những loại phim có độ bão hòa cao mới để cạnh tranh. Nhìn chung không thể nói loại nào tốt hơn loại nào. Digital là dành cho những người theo đuổi sự trung thực, analog là của những người đam mê sự lý tưởng.

(Hết kỳ 3)

Xem:

Tìm hiểu về méo tín hiệu (phần 1)

Tìm hiểu về méo tín hiệu (phần 2)

Tìm hiểu về méo tín hiệu (phần 3)

Bạn có thể tham khảo video khác tại đây

Tác động của AudioQuest JitterBug đến USB DAC và chất lượng âm thanh

Bách Diệp

Từ khóa:

Tin liên quan